Đang tải dữ liệu ...
Chào mừng quý vị đến với Diễn đàn Phật học Vườn Tâm          Chào mừng quý vị đến với Diễn đàn Phật học Vườn Tâm    
Khất Sĩ Phật Việt › Nghiên cứu
Cập nhật: 10/08/2013 
Giới Luật Khất Sĩ – Phần 2

6. Giới pháp Phật tử:

Giới Phật tử gồm 10 giới trọng và 48 giới khinh được Tổ sư Minh Đăng Quang biên tập từ Kinh Phạm Võng. Vì sao dùng tên là Giới Phật tử mà không gọi là Giới Bồ-tát? Bởi Phật tử nghĩa là con Phật, là những người từ pháp Phật sanh, là các nam nữ khất sĩ, gồm hết các hàng Thánh vị Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ-tát... TừPhật tử mang những nghĩa bao quát và khiêm tốn, dùng từ này để đặt tên cho 10 giới trọng và 48 giới khinh là thích hợp nhất, sẽ diễn đạt chính xác cả nghĩa và ý. Khi dùng từ Bồ-tát thì có vẻ như các bậc Thanh Văn, Duyên Giác không có phần, như thế không phải là tâm nhất thừa bình đẳng. Lại nữa, từ Bồ-tát thường được hiểu là chỉ một hạng người cao hơn mọi người, nên dùng từ này dễ dẫn đến sự ngộ nhận, làm nảy sanh hoặc tự tôn hoặc tự ti, đều không hay. Phật pháp khai triển ở nhân gian đã lấy 7 chúng Phật tử là Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, Ưu-bà-tắc và Ưu-bà-di làm đối tượng giáo hóa căn bản. 7 chúng đó là Thanh Văn hay là Bồ-tát sẽ được xác định trên tâm đức và trí tuệ của họ. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa đã từng nhận xét các ngài A-nan, Tu-bồ-đề, Ca-chiên-diên… là các bậc “Ngoài hiện tướng Thanh Văn, trong ẩn hạnh Bồ-tát”, ai bảo các vị ấy là hàng sơ học là lầm.

Giới Phật tử đã được Tổ sư Minh Đăng Quang biên tập thành Chơn Lý số 55 và mỗi tháng vào sáng ngày mùng 8 hoặc sáng ngày 23 đại chúng đều sẽ tụng giới này một lần (ở các tịnh xá lớn). Trong bài kệThọ Bát hàng ngày Tăng Ni thường tụng đã nêu lên 3 đại nguyện căn bản của Phật pháp:

Nguyện dứt ác duyên thoáng sạch không,

Nguyện các việc lành làm tất cả,

Nguyện xin độ tận chúng sanh chung.

Ba đại nguyện căn bản này còn thường được gọi là Ba nhóm Phật pháp (Tam tụ) hay Ba nhóm giới trong sạch của các Phật tử (Tam tụ tịnh giới), chúng bao hàm Nhiếp luật nghi giới, Nhiếp thiện pháp giới và Nhiếp chúng sanh giới. Đức Phật Ca-diếp đã khẳng định: “Chớ làm các điều ác, hãy làm các điều lành, cái sở ý của ngươi phải cho trong sạch luôn luôn, chư Phật đều dạy như vậy!”. Vậy hiểu theo nghĩa rộng thì giới tức là pháp, không có gì sai khác, ai thọ giới cũng là thọ pháp, ai thọ lãnh giáo pháp cũng là thọ giới mà thôi.

Giới Phật tử do Tổ sư Minh Đăng Quang biên tập có những nét đặc biệt của nó phù hợp với Chánh pháp của ba đời ngàn Phật. Xin trích dẫn vài đoạn để mọi người theo dõi:

GIỚI PHẬT TỬ

Các Phật tử lóng nghe!

Xưa Phật bảo các hàng Phật tử xuất gia rằng: có 10 giới trọng, nếu các ngươi thọ giới Phật tử mà không tụng giới này, thời chẳng phải Phật tử, chẳng phải dòng giống Phật. Ta cũng tụng như vậy, tất cả Phật tử đã học, sẽ học và nay học, cần phải học, kỉnh tâm vâng giữ.

Phật nói:

   1. Này Phật tử! Hoặc mình giết,…

   2. Này Phật tử! Mình trộm,…

   3. Này Phật tử! Mình dâm,…

   4. Này Phật tử! Mình nói vọng,…

Vậy giới pháp này đức Phật dạy cho các hàng Phật tử xuất gia. Khi tụng giới này các chúng xuất gia nhỏ cũng được dự nghe. 58 giới Phật tử đều được mở đầu bằng câu “Này Phật tử!”. Khi so sánh Giới Phật tử của Tổ sư Minh Đăng Quang biên tập với Kinh Phạm Võng Bồ-tát Giới của hòa thượng Trí Tịnh dịch từ Hán ngữ, ta dễ nhận ra nhiều chỗ khác nhau về văn phong, ý tứ…Ví dụ các giới khinh thứ 5, 8 và 24:

5. Này Phật tử! Thấy chúng Tăng phạm phá giới cấm, mắc thất nghịch, bát nạn, hết thảy các tội phạm giới, đều phải dạy họ sám hối. Mà Phật tử đã không dạy sám hối, lại còn để chung ở, chung hưởng của chúng Tăng và chung cùng bố-tát, đồng chúng tụng giới, mà không cử tội người đó, cũng không dạy người đó sám hối, thời phạm khinh cấu tội.”

Và “5. GIỚI KHÔNG DẠY NGƯỜI SÁM TỘI

Nếu Phật tử khi thấy người phạm ngũ giới, bát giới, thập giới, phá giới hay phạm thất nghịch, bát nạn, tất cả tội phạm giới v.v… phải khuyên bảo người ấy sám hối. Nếu Phật tử chẳng khuyên bảo người phạm tội sám hối, lại cùng ở chung, đồng sống chung, đồng chúng bố-tát, đồng thuyết giới, mà không cử tội người ấy, không nhắc người ấy sám hối, Phật tử này phạm khinh cấu tội.”…

8. Này Phật tử! Đem lòng bỏ kinh luật thường trụ cho là không phải Phật nói, mà vâng giữ theo những giới cấm kinh luật của tà kiến, của ngoại đạo, thời phạm khinh cấu tội!”

Và 8. GIỚI CÓ TÂM TRÁI BỎ ĐẠI THỪA

Nếu Phật tử, có quan niệm trái bỏ kinh luật Đại thừa thường trụ, cho rằng không phải của Phật nói, mà đi thọ trì kinh luật tà kiến và tất cả cấm giới của Thanh Văn nhị thừa cùng ngoại đạo ác kiến, Phật tử này phạm khinh cấu tội.”

24. Này Phật tử! Có kinh luật của Phật, chánh kiến, chánh tánh, chánh pháp thân, mà không chịu cần học tu tập, khác nào bỏ của thất bảo, trở lại học theo sách vở của thế tục, lý luận của đời, các luận của ngoại đạo, tất cả thuyết của tà kiến; đó là nhơn duyên ngăn đạo, dứt mất Phật tánh, chẳng phải tu hạnh Phật tử. Nếu cố làm như thế phạm khinh cấu tội!”

Và 24. GIỚI KHÔNG TẬP HỌC ĐẠI THỪA

Nếu Phật tử, có kinh luật Đại thừa pháp, chánh kiến, chánh tánh, chánh pháp thân của Phật, mà không chịu siêng học siêng tu, lại bỏ bảy của báu, trở học những sách luận tà kiến của Nhị thừa, ngoại đạo, thế tục; đó là làm mất giống Phật, là nhơn duyên chướng đạo, chẳng phải thực hành đạo Bồ-tát. Nếu cố làm như vậy, Phật tử này phạm khinh cấu tội.”

Giới Phật tử bao quát đầy đủ cả 3 nghiệp thân khẩu ý, chính là phần mở rộng của các giới pháp căn bản mà đức Phật đã biệt truyền cho các chúng Phật tử xuất gia. Với những khoản “…Hoặc mình giết, bảo người giết, phương tiện giết, khen ngợi giết, thấy giết vui theo, nhẫn đến chú thuật giết, nhơn giết, duyên giết, pháp giết, nghiệp giết, tất cả các loài có mạng sống không nên cố giết…” thì chính là giới sát triệt để chứ có gì lạ. Hoặc giới 32: “…Không đặng buôn bán dao, gậy, cung, tên, cân non, giạ thiếu, cậy thế lực quan trên lấy ngang của chúng, lòng ác trói buộc phá hư việc thành công của người, và nuôi mèo, chồn, heo, chó v.v… Nếu cố làm thời phạm khinh cấu tội”, thì cũng chính là ý nghĩa của Chánh mạng trong Bát chánh đạo mà thôi… Sự mở rộng là mở rộng của cái chính, cái căn bản. Khi những cái căn bản được xem là tà kiến, phi pháp, nhỏ mọn… thì thật chẳng biết nói thế nào nữa! Lẽ nào Phật Thích-ca đã dạy những cái đó cho các đệ tử? Cho nên Tổ sư Minh Đăng Quang đã lược bỏ hết những từ ngữ và ý tứ đó trong khi biên tập Giới Phật tử…

Nhiều người nói rằng Giới Phật tử là tâm giới. Nhưng tâm chơn không cần lập giới cấm, còn tâm có giới cấm là tâm vọng. Mà tâm vọng tức là nghiệp, là thức và hành, là từ trong những cảnh giới của chúng sanh mà có. Dù Giới Phật tử được kết tập trong pháp hội Hoa Nghiêm, trước khi đức Thích-ca có các đệ tử xuất gia đi nữa, thì giới pháp này cũng phải ứng theo chúng sanh pháp mà lập, tức là ứng theo nghiệp vọng cố hữu nhiều đời kiếp của chúng sanh mà lập chứ không thể khác. Nên Tổ sư Minh Đăng Quang đã dạy: “Người tội sanh giới luật chớ giới luật không sanh người tội…”. Phật pháp không có hai vị và lẽ tâm chơn tâm vọng này chắc là không sai.

Giới Phật tử chia làm 2 nhóm theo 2 mức định tội căn bản: nhóm giới trọng (nặng) có 10 điều và nhóm giới khinh (nhẹ) có 48 điều. Giới Phật tử có nội dung vắn tắt là 3 câu Dứt ác, Làm lành và Từ bi tế độ chúng sanh, cũng như lời giáo giới của đức Phật Ca-diếp đã nói trên.

Thực tế cho thấy, Giới Phật tử đã từ Trung Quốc mà được lưu truyền khắp vùng Đông Á. Trung Quốc đã là một đất nước phong kiến rộng lớn, mạnh mẽ suốt mấy ngàn năm, do hàng vua quan quý tộc nắm đại quyền, sở hữu nhiều tài sản và có nhiều ảnh hưởng lớn trong xã hội. Nếu tầng lớp đứng đầu xã hội đó theo Phật giáo, gắn bó với Phật giáo, thì ắt hẳn Phật giáo sẽ có nhiều sự ủng hộ đáng kể. Để kêu gọi các tầng lớp quý tộc Trung Quốc này có lẽ phải cần một giới pháp, ngoài giới pháp xuất gia. Diện mạo chân thật của Giới Phật tử trong nền Phật giáo Ấn Độ như thế nào thì còn cần phải tìm hiểu, nhưng cứ theo lý mà suy thì nó phải phù hợp với Chánh pháp của ba đời ngàn Phật: quá khứ Trang Nghiêm kiếp có 1.000 đức Phật, hiện tại Hiền kiếp có 1.000 đức Phật và vị lai Tinh Tú kiếp cũng có 1.000 đức Phật ra đời tại thế gian này. Điều được xác định ở đây là Giới Phật tử do Tổ sư Minh Đăng Quang biên tập lại từ Kinh Phạm Võng đã có những đặc điểm nổi bật: một là dành cho người xuất gia, hai là không chống báng các giới pháp xuất gia mà đức Phật Thích-ca đã dạy, ba là không có sự truyền thọ nhưng đã được biên tập và vẫn thường được tham khảo tụng đọc tập thể, và bốn là văn phong rất trôi chảy, ôn hòa, súc tích. Còn hàng cư sĩ như đã lược nêu trong phần B1 thì chỉ có hai giới pháp là 5 giới và 8 giới mà thôi.

Tóm lại, các Giới bổn mới chính là trọng tâm cho các khất sĩ thọ và trì, còn Giới Phật tử cũng rất nên tham khảo để phát tâm, lập chí, học theo gương chư Phật. Kinh Hoa Nghiêm đã dạy: “Giới là gốc của Bồ-đề vô thượng.”, Kinh Phạm Võng đã dạy: “Chúng Phật tử nhiều như vi trần do giới pháp Phật dạy mà thành Chánh giác.”, hàng Phật tử nên ghi nhớ trân trọng sự thật cao quý đó!

7.  114 điều Luật nghi Khất Sĩ:

   1. Cấm tất cả Tăng sư cùng tập sự lớn nhỏ, chưa có xin phép Giáo hội, không có việc gì khẩn cấp, tự ý ra đi, lén trốn mà đi, phạm bị giáng cấp.

   2. Cấm kẻ nào nói “Tôi chỉ biết có một mình Sư Trưởng”, cả thảy phải quy tuân theo phép của Giáo hội.

   3. Cấm nói thế sự vua quan, thiên cơ sấm giảng.

    …

   34. Cấm người tu trí huệ mà nói chuyện nhiều và không giới, định.

   35. Cấm người xuất gia mà không tu thiền định.

    …

   70. Cấm người xuất gia mà còn tham lam, sân giận, si mê.

   71. Cấm xuất gia mà còn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý không trong sạch (như kẻ thế).

    …

   80. Cấm cho thọ Giới y bát một người dốt văn tự quốc ngữ (phải mặc áo quần tập sự).

   81. Cấm cho mặc dùng y bát một người trì giới, thiền định không được.

    …

   113. Cấm hay kiếm chuyện này chuyện kia làm phiền trong Giáo hội.

   114. Cấm hay đòi hỏi làm khó rầy trong giáo hội.

114 điều Luật nghi Khất Sĩ, điều 1 nhằm ngăn ngừa tình trạng Tăng, Ni khất sĩ tự do đi tu tịnh vô tổ chức. Trong điều 2, “Sư Trưởng” có lẽ lúc đầu là chỉ Tổ sư Minh Đăng Quang khi ngài còn tại thế, về sau là chỉ các vị trưởng giáo đoàn. Điều 3 là tinh thần chung của Thích-ca Chánh pháp. Điều 71, lục căn không trong sạch là không trong sạch về hành vi đạo đức: ngó liếc, nghe ngóng, xao động, đòi hỏi ăn ngủ… Điều 80 bị trùng với điều 24: “Cấm cho một người dốt, không thông chữ quốc ngữ thọ Giới y bát (tùy theo mỗi cách).” Nhưng nhờ điều 80 ta xác định được Giới y bát là các giới gì, theo cách nói của Tổ sư.

8. Những quy định của Hệ phái Phật giáo Khất Sĩ:

a. Chương Luật Khất Sĩ: trong chương này, Tổ sư Minh Đăng Quang đã nêu các nội dung:

– Bình bát đất

– Bộ tam y của các nam khất sĩ và nữ khất sĩ

– Các vật dụng đơn giản của người xuất gia: khăn lau, choàng tắm, muỗng, bàn chải, dao cạo, lược nước, ca uống nước, mùng, giường, ghế, cốc, tọa cụ…

– Tứ y pháp và 10 giới (hoặc 250 giới)

– Niết-bàn thời khắc biểu – Trú dạ lục thời

– Giáo hội Tăng-già Khất Sĩ

– Xuất gia, thọ giới

– Xây cất tịnh xá, phòng cốc, làm tháp thờ Phật

– Sinh hoạt: cúng hội, khất thực, đọc kinh, tu tịnh, dạy chữ, in kinh sách…

– Bổn phận Sư tri sự

– Cách đi khất thực

– Phép đi đến nhà cư sĩ

– Các hạnh khất sĩ: ăn, mặc, nói, làm, đi, đứng, ngồi, nằm, thức (tỉnh), mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.

b. Các quy định của Hội đồng Giáo phẩm Hệ phái Phật giáo Khất Sĩ Việt Nam

– Truyền giới Sa-di: tại giáo đoàn. Tiêu chuẩn được thọ giới: tối thiểu phải xuất gia 1 năm và 18 tuổi đời, hạnh kiểm tốt, bài vở thuộc, được sự giới thiệu xin phép của Bổn sư.

– Truyền giới Tỳ-kheo: Từ thời đức Tổ sư Minh Đăng Quang, các Giới đàn Khất Sĩ đã thường được tổ chức mỗi năm một lần vào ngày Tự tứ. Đến năm 1962, các giáo đoàn buộc phải Tự tứ riêng do sự can thiệp của chính quyền Ngô Đình Diệm ở Tây Ninh và đã tổ chức các giới đàn Khất Sĩ riêng. Qua năm 1963, các giáo đoàn vẫn còn Tự tứ chung ở Long Xuyên, hàng lãnh đạo các giáo đoàn vẫn về đủ nhưng chư Tăng về không đủ do tình hình rối ren từ cuộc đảo chánh Ngô Đình Diệm. Do vậy, trong lần Tự tứ 1963 này, đức Thượng tọa Nhị Tổ đã chính thức tuyên bố các giáo đoàn tạm sinh hoạt riêng. Và kể từ năm 1995 đến nay, Giới đàn Khất Sĩ được tổ chức tập trung mỗi năm một lần vào tối ngày mùng 9 tháng 7 âl tại Trường Hạ Hệ phái (để sáng ngày mùng 10 giải Hạ, về các giáo đoàn tự tứ, về các nơi dự lễ Vu-lan). Các tiêu chuẩn được thọ giới: tối thiểu là 3 năm Sa-di và 21 tuổi đời, năm thọ giới phải an cư tại Trường Hạ Hệ phái (trừ lý do bận đi học các trường Phật học ở địa phương), hạnh kiểm tốt, bài vở thuộc, nắm vững được một phần Phật pháp căn bản, vượt qua được kỳ sát hạch tại giới đàn (3 môn được điểm từ 10 đến 20), được sự giới thiệu xin phép của Bổn sư, được giáo đoàn thông qua.

– Truyền các giới của chư Ni: tại giáo đoàn, có các tiêu chuẩn thọ giới riêng. Nếu Giới đàn nữ Khất Sĩcũng được tổ chức tập trung như phép tắc thời Tổ sư thì hay lắm. Các Ni trưởng Khất Sĩ hiện nay cũng rất mong mỏi điều này. Từ Ni trưởng Tràng Liên ở Giáo đoàn Ni giới đến quý Ni trưởng ở các giáo đoàn khác cũng vậy. Và như thế, ngoài những giới đàn phụ cho các chúng nhỏ, từ lâu Phật giáo Khất Sĩ đã có 2 giới đàn chính để chơn truyền y bát, chơn truyền giới luật cho chư khất sĩ. Tinh thần nối truyền Thích-ca Chánh pháp quả thật đã bàng bạc khắp trong nền Phật giáo do đức Tổ sư Minh Đăng Quang khai sáng.

– Họp mặt, thăm viếng đạo tình, trao đổi Phật sự của chư tôn đức trong Hội đồng Giáo phẩm Hệ phái Phật giáo Khất Sĩ: mỗi năm 3 lần thường kỳ tại trụ sở hệ phái - Tịnh xá Trung Tâm, Q. Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh. Năm 2012 sẽ tăng cường một lần nữa khi giỗ đức Trưởng lão Giác Lý. Các giáo đoàn Tăng họp trước, sau đó chư tôn đức Tăng chứng minh cho Ni giới.

C. TẠM KẾT

Với tinh thần căn bản là nối truyền Thích-ca Chánh pháp, Giới luật Khất Sĩ đã được Tổ sư Minh Đăng Quang tổng hợp và ban hành cho các Tăng, Ni khất sĩ và Phật tử tu học. Qua những gì đã tìm hiểu, có thể kết luận rằng Phật giáo Khất Sĩ có một hệ thống giới luật hoàn bị, vững chắc. Hệ thống giới luật này đã tác thành đạo nghiệp cho chư khất sĩ. Nương theo hệ thống giới luật này, chư khất sĩ đã được sinh ra và lớn lên, trở thành những bậc tài đức hữu dụng, như con được lớn mạnh nhờ sữa mẹ giàu chất bổ dưỡng, như cây được xum xuê nhờ có bộ rễ tốt, như tòa nhà bất động trước gió bão nhờ nền móng vững chắc của nó.

Trong phạm vi tìm hiểu sơ lược, bài viết đại cương này đã vạch ra những nội dung căn bản  những đặc điểm của Giới luật Khất Sĩ. Không đứng núi này trông núi nọ phiền phức, những khía cạnh khác của Giới luật Khất Sĩ sẽ được lần lượt tìm hiểu trong các bài viết khác. Đến đây, chỉ có một điều căn bản được khẳng định là Phật giáo Khất Sĩ có một hệ thống giới luật biệt truyền như vậy.

Những gì chư Phật chư Tổ đã làm là qua những thấy biết như thật của các ngài. Còn những gì hình thành nên bài viết này lại là căn cứ vào những thấy nghe lượm lặt và những suy diễn tổng hợp. Nếu bài viết này được đúng như chơn lý thì tốt, còn nếu không thì đó là lỗi riêng của soạn giả. Với nhiệt tình hộ trì chánh pháp của bài viết này, xin các bậc cao minh lượng thứ và bổ khuyết thêm cho.

------------

THƯ MỤC THAM KHẢO

1. Tổ sư Minh Đăng Quang, Chơn Lý, TP.HCM, Thành hội Phật giáo TP. Hồ Chí Minh ấn hành, 1993.

2. Tổ sư Minh Đăng Quang, Luật Nghi Khất Sĩ, Sài Gòn, Giáo hội Tăng-già Khất Sĩ Việt Nam ấn hành, 1972.

3. Sa-môn Thích Trí Tịnh dịch, Kinh Phạm Võng Bồ-tát Giới, Sài Gòn, chùa Vạn Đức ấn tống, 1971.

4. HT. Thích Thiện Hòa, Tỳ-kheo Giới Kinh, TP.HCM, Thành hội Phật giáo TP. Hồ Chí Minh ấn hành, 1992.

5. HT. Thích Trí Thủ, Luật Tỳ-kheo, 3 tập, TP. HCM, Trường Cao cấp Phật học Việt Nam ấn hành, 1991.

6. HT. Thích Thiện Siêu, Cương Yếu Giới Luật, Hà Nội, Nxb. Tôn Giáo, 2002.

7. HT. Thích Phước Sơn, Luật Học Tinh Yếu, TP. HCM, Nxb. Phương Đông, 2006.

8. HT. Thánh Nghiêm, Giới Luật Học Cương Yếu do Tuệ Đăng dịch, TP. HCM, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2000.

9. Sa-môn Thích Minh Thành, Giáo Trình Luật Học Cơ Bản, 5 tập, TP.HCM, Thành hội Phật giáo Tp. Hồ Chí Minh ấn hành, 1993.

10.  HT. Thích Thanh Kiểm, Lịch Sử Phật Giáo Trung Quốc, Hà Nội, Nxb. Tôn Giáo, 2001.

KS. Minh Bình - Đạo Phật Khất Sĩ

Họ & tên
 Địa chỉ
 Email
 Địa chỉ
Điện thoại:
Chủ đề
Nội dung:
(Phần chữ in đậm là bắt buộc.)
Nhập mã xác nhận:  
Tôi đồng ý gửi thông tin này đến ban quản trị website.

CÁC BÀI VIẾT KHÁC TRONG MỤC :Khất Sĩ Phật Việt › Nghiên cứu