Đang tải dữ liệu ...
Chào mừng quý vị đến với Diễn đàn Phật học Vườn Tâm          Chào mừng quý vị đến với Diễn đàn Phật học Vườn Tâm    
Khất Sĩ Phật Việt › Nghiên cứu
Cập nhật: 02/09/2013 
Quan điểm về biết ơn và đền ơn của Tổ sư Minh Đăng Quang
Sống ở trên đời, từ khi sinh ra, lớn lên và cho đến khi giã từ cõi sống, ai cũng thọ ơn người khác để tồn tại theo quy luật duyên sinh. Tuy nhiên, sự liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau trong cuộc sống chằng chịt nhiều tầng nhiều lớp và ở các mức độ khác nhau trên bình diện rộng khắp cả vũ trụ này, không phải ai cũng ý thức được rằng mình đang thọ ơn nhiều người khác. Tuy nhiên, nếu chịu khó chiêm nghiệm một tí, chúng ta không thể đơn độc tồn tại nếu không thọ ơn bao người xung quanh, không ở phương diện này thì ở phương diện khác.

Khi hiểu được quan hệ tương duyên phụ thuộc nhau mà tồn tại như là một lẽ tất nhiên trong cuộc sống, chúng ta cần phát khởi ý niệm biết ơn, nhớ ơn và đền ơn. Do đó, ở đời cũng như đạo, đạo lý biết ơn và đền ơn được nhắc nhở, khuyến khích và nêu gương bằng nhiều hình thức trong cộng đồng. Trong phạm vi bài này, người viết chỉ đề cập đến sự biết ơn và đền ơn theo quan điểm Phật giáo, đặc biệt là theo tư tưởng của Tổ sư Minh Đăng Quang.

Tinh thần biết ơn và đền ơn trong Đạo Phật

Ở đời, biết ơn và đền ơn là một trách nhiệm đạo đức xã hội đối với con người và môi trường sống, bao gồm những biểu hiện biết ơn và đền ơn đối với môi trường vật lý, môi trường xã hội và môi trường văn hóa. Cách thông thường mà người đời ghi ơn và đền ơn, và cũng là cách để nhắc nhở người cùng thế hệ hoặc các thế hệ sau, là đặt tên đường lộ, trường học, công viên và các công trình công cộng nói chung theo tên các bậc tiền bối đã đem lại lợi ích và hạnh phúc cho nhiều người.

Trong Đạo Phật, biết ơn và đền ơn luôn được đề cao. Đức Phật khen ngợi những người biết ơn và đền ơn và kinh ghi lại lời tán thán của Ngài rằng, “Có hai hạng người này, này các Tỳ kheo, khó tìm được ở đời. Thế nào là hai? Người thi ân trước và người biết nhớ ơn đã làm. Hai hạng người này, này các Tỳ kheo, khó tìm được ở đời.” (Tăng Chi Bộ Kinh, phẩm 9: Các hy vọng, phần 1.12)

Trong Kinh Tăng Chi, Đức Phật dạy: “Không biết ơn, không nhớ ơn, là những người độc ác. Đây là đặc tánh của người không phải bậc chân nhân. Còn đặc tánh của bậc chân nhân là biết ơn, là nhớ ơn.” (Tăng Chi Bộ Kinh, phẩm 4: Tâm thăng bằng, phần 1.11). Lời kinh này nhắc rằng, người đúng với nhân vị một con người là phải thực hiện nghĩa cử biết ơn, nhớ ơn và đền ơn. Ngược lại, người không làm được điều này là người độc ác. Như vậy đủ biết chuẩn mực đạo đức trong Đạo cao hơn ở ngoài đời. Đức Phật là một bậc thầy coi trọng giá trị nhân bản khi dạy rằng, biết ơn và nhớ ơn là một trong những đặc tính đặc trưng của một con người lương thiện trong đời. Nói cách khác, đã là con người, là phải có lòng biết ơn và nhớ ơn. Ở một bài kinh khác, Đức Phật dạy người nào không biết ơn và đền ơn, sẽ bị quả báo ác. Không những thế, Ngài còn đặt ‘cái tội’ vong ơn bội nghĩa vào chung một tụ với những người nói dối, hủy báng bậc thánh và phản bội bạn. Điều này giúp chúng ta thấy rõ hơn giá trị của lòng biết ơn và tác hại của tâm vong ơn:

Ác báo do vọng ngôn,

Ác báo do báng Thánh,

Ác báo do phản bạn,

Ác báo do vong ân.

(Tương Ưng Bộ Kinh, chương 11: Tương ưng Sakka, mục 7: Không gian trá).

Như vậy, biết ơn và đền ơn, theo Đức Phật, là nhân lành để rồi chúng ta có được quả ngọt là hạnh phúc và an vui. Những ai muốn tránh quả báo ác thì đừng có vong ân. Đức Phật từng cảnh báo rằng: “Người nào thân làm ác, với lời nói ác, với ý nghĩ ác, với không biết ơn, không biết trả ơn, sẽ bị rơi vào địa ngục. Người nào thân làm thiện, với lời nói thiện, với ý nghĩ thiện, biết ơn, biết trả ơn, sẽ được sanh lên cõi Trời.” (Tăng Chi Bộ Kinh, phẩm 22: Ô uế, mục 3 (213): Không biết ơn). Ở đây, chúng ta hiểu rằng thể hiện sự biết ơn và đền ơn là một trong những điều kiện quyết định điểm đến của đời mình. Rõ ràng đây là một hạnh tu cho những ai muốn hướng thượng cuộc đời mình.

Như vậy, biết ơn và đền ơn là sợi dây liên kết giữa người và người để qua đó, con người có cơ hội thể hiện bản chất người đúng nghĩa của mình và chính giá trị nhân bản này mở lối cho cảnh giới tốt đẹp mà con người sẽ sanh về sau, khi mãn báo thân ở kiếp người này.

Đối tượng nhớ ơn và đền ơn

Đối tượng để chúng ta nhớ ơn và đền ơn là những người mình từng thọ ơn trong cuộc sống. Theo quan điểm Phật giáo, hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp, hoặc nhiều hoặc ít, hoặc quá khứ, hiện tại hay tương lai, mình thọ ơn tất cả mọi người, nếu không ở đời này thì cũng ở nhiều đời trước. Điều này có nghĩa là chúng ta cần phải biết ơn và đền ơn tất cả. Tuy nhiên, trong số những người mình thọ ơn, những người gần nhất mà chúng ta mang ơn sâu nặng nhất là cha và mẹ. Đây là những người trực tiếp giới thiệu chúng ta đến với cuộc đời này, để rồi ta có một cuộc sống với đầy đủ hương vị của một kiếp người cùng các trải nghiệm thực tế sinh động quý báu mà chỉ có đi xuyên qua cuộc đời chúng ta mới có được. Đức Phật dạy “Có hai hạng người, này các Tỳ kheo, Ta nói không thể trả ơn được. Thế nào là hai? Mẹ và Cha. Nếu một bên vai cõng mẹ, này các Tỳ kheo, một bên vai cõng cha, làm vậy suốt trăm năm cho đến 100 tuổi; nếu đấm bóp, thoa xức, tắm rửa, xoa gội, và dầu tại đấy, mẹ cha có vãi tiểu tiện đại tiện, như vậy, này các Tỳ kheo, cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha.” (Tăng Chi Bộ Kinh, phẩm 4: Tâm thăng bằng, phần 1.1)

Nói về ơn nặng trong đời chúng ta đã thọ và cần thể hiện sự biết ơn và đền ơn cần kể đến một người nữa, đó là người thầy đưa ta đến đời sống đạo đức tâm linh. Trong Đạo Phật, ơn đó thuộc về người nào đã đưa ta về nếp sống của Đạo. Trong kinh dạy rằng: “Thật là như vậy, này Ananda ! Thật là như vậy, này Ananda ! Này Ananda, nếu do nhờ một người, mà một người khác được quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, thời này Ananda, Ta nói rằng người này không có một đền ơn nào xứng đáng đối với người kia về đảnh lễ, đứng dậy, chắp tay, về làm những việc thích hợp và về dâng cúng các sự cúng dường như y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Nếu do nhờ một người mà một người khác từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say các loại rượu men, rượu nấu, thời này Ananda, Ta nói rằng người này không có một đền ơn nào xứng đáng đối với người kia.” (Kinh Phân biệt cúng dường, Trung Bộ Kinh, số 142).

Ngoài người trực tiếp đưa mình vào đời và người đưa mình vào đạo hướng đến đời sống giải thoát như vừa nói trên, tất cả những người trong đời đều là người mình cần trả ơn, vì trong vòng luân hồi vô tận, ai cũng đã từng là người thân của ta. Trong Kinh Phạm Võng, Đức Phật từng dạy, tất cả người nam đều là cha ta, tất cả người nữ đều là mẹ ta. Trong Tương Ưng Bộ Kinh, chúng ta cũng thấy có đoạn tương tự “Này các Tỳ kheo, thật không dễ gì tìm được một chúng sanh, trong thời gian dài này, lại không một lần đã làm mẹ, làm cha” (Tương Ưng Bộ Kinh, Chương IV: Tương ưng vô thỉ, Phẩm thứ hai, Mục 4: Mẹ; Mục 5: Cha). Giữ trong tâm ý niệm này, chúng ta dễ dàng thực tập phương pháp ‘quán tình thân’ với những người xung quanh, để phát khởi niệm lành, rải tâm từ thương yêu tất cả, hóa giải nội kết, khổ đau để mối quan hệ tình người đặt trên nền tảng của tâm từ bi.

Học thuyết tái sanh và luân hồi là cơ sở để chúng ta xác định rằng, đối tượng chúng ta cần biết ơn và đền ơn không chỉ có cha mẹ huyết thống và Thầy tâm linh. Không những thế, phạm vi thương yêu và quan hệ cho-nhận trong Đạo Phật không chỉ giới hạn giữa đồng loại với nhau. Trên nền tảng này, Đức Tổ sư Minh Đăng Quang, với tầm nhìn sâu rộng, đã chỉ cho chúng ta hiểu rằng, sống ở đời, chúng ta không chỉ thọ ơn tất cả con người mà chúng ta còn mang ơn nhiều loài chúng sanh khác, kể cả cỏ cây đất đá. Ngài dạy rằng, trong vòng tiến hóa từ thấp đến cao, loài vật cao hơn chịu ơn một hoặc nhiều loài vật thấp hơn để duy trì mạng sống của mình. Ngài viết:

“Cây cỏ chịu ơn đất rất nặng, dày vò đất mà sống trong đất, con hành hạ mẹ. Kịp lúc tiến hóa, đến loại biết động cựa, như sâu, bướm, từ trong cây cỏ phát sanh, do thọ ấm lâu ngày thành tưởng ấm. Lúc ấy ta lại ăn cây cỏ, chịu ơn cây cỏ rất nặng, dày vò cây cỏ mà sống bằng cây cỏ. Lần lượt trải theo duyên tiến hóa, từ loài nhỏ nhít, cho đến được với lớp thú chạy, chim bay, ta đã hành hạ biết bao loài cây cỏ. Cho đến lúc mang thân người trải qua nhiều lớp thú: cọp, beo, sư tử... cùng vượn, khỉ, giả nhơn... ta đã giết hại biết bao loài cỏ cây, và thú nhỏ,…” (Chơn Lý, tr. 19, Võ trụ quan).

Như vậy, con người là loài tiến hóa nhất, cũng có nghĩa rằng, trong mối quan hệ liên đới và phụ thuộc nhau, người thọ ơn nhiều loài chúng sanh nhất để duy trì cuộc sống làm người. Ngài nhắc nhở: “Ngàn đời muôn kiếp chúng ta đã sống và mang ơn đất nước cỏ cây thú người Trời Phật.” (Chơn Lý, tr. 118, Nam và nữ) Do đó, nếu không biết ơn và đền ơn, con người sẽ trở thành loài chúng sanh tội lỗi nhất. Thật khó chấp nhận rằng, là một loài tiến hóa nhất trong các loài chúng sanh mà con người lại không biết ơn và đền ơn sâu nặng của các loài kém phát triển hơn mình. Rõ ràng điều Đức Tổ sư dạy rất phù hợp với những gì Đức Phật dạy ở trên rằng người vong ơn là người độc ác và người biết ơn và đền ơn mới là bậc chân nhân.

Ngay cả Đức Phật, sau khi thành quả vị chánh giác, Ngài cũng thực hành hạnh đền ơn chúng sanh bằng con đường giáo hóa không hề ngơi nghỉ cho đến trọn đời để tâm rảnh nhẹ trước khi vào Niết Bàn ngơi nghỉ. Đức Tổ Sư nói rằng:

Như Phật Thích Ca xưa, khi đắc quả A La Hán rồi thì đi giáo hoá cho khắp chúng sanh mà đền ơn xưa nghĩa cũ. Khi thì vào địa ngục giải cứu chỉ dạy, khi đến nơi ngạ quỷ khuyên răn, lúc sanh làm thú để cảm hóa làm gương tập dạy, khi làm thần dạy dỗ chư thần, lúc làm cây cỏ thọ thần thuyết pháp. Khi sanh cõi người lập đạo, lúc sanh lên trời giáo hóa sau khi kiếp chót, đền trả hết công ơn của chúng sanh rồi, trong tâm mới được an vui nhẹ nghiệp mà vào cảnh vắng lặng Niết Bàn. (Chơn Lý, Công lý vũ trụ, tr. 157-158)

Như vậy, theo lời dạy của Đức Phật được ghi lại trong kinh điển, đối tượng chúng ta cần biết ơn và đền ơn, trước và trên hết là cha mẹ, các vị thầy hướng dẫn tâm linh. Tổ Sư Minh Đăng Quang nhấn mạnh trong Chơn Lý rằng tất cả mọi người, mọi loài trong thế giới duyên sinh trùng trùng này là đối tượng để chúng ta thể hiện lòng biết ơn và đền ơn. Đây là một hạnh tu, không chỉ với người đang thực hành để hoàn thiện mình mà ngay cả với Đức Phật khi đã chứng quả giác ngộ bồ đề.

Cách đền ơn

Trong kinh, Đức Phật dạy, để đền đáp công ơn sâu dày của hai đấng sanh thành, người tạo nên sự sống cho đời, chúng ta không thể nào dùng vật chất mà có thể đáp ứng được, mà phải hướng cha mẹ quy ngưỡng Tam Bảo và biết thực hành giáo pháp giải thoát. Kinh ghi lại rằng:

“Này các Tỳ kheo, nếu có an trí cha mẹ vào quốc độ với tối thượng uy lực, trên quả đất lớn với bảy báu này, như vậy, này các Tỳ kheo, cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha. Vì cớ sao? Vì rằng, này các Tỳ kheo, cha mẹ đã làm nhiều cho con cái, nuôi nấng, nuôi dưỡng chúng lớn, giới thiệu chúng vào đời này. Nhưng này các Tỳ kheo, ai đối với mẹ cha không có lòng tin, khuyến khích, hướng dẫn an trú các vị ấy vào lòng tin; đối với mẹ cha theo ác giới, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào thiện giới; đối với mẹ cha xan tham, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào bố thí; đối với mẹ cha theo ác trí tuệ, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào trí tuệ. Cho đến như vậy, này các Tỳ kheo, là làm đủ và trả ơn đủ mẹ và cha.” (Tăng Chi Bộ Kinh, phẩm 4: Tâm thăng bằng, phần 1.11)

Theo ý pháp này, Tổ sư Minh Đăng Quang khai triển rộng hơn cách đền ơn đối với người thực hành chân lý giải thoát. Ở trên, chúng ta đã nhắc đến quan điểm của Phật giáo về mối quan hệ giữa người và người là tất cả chúng sanh đều là cha mẹ mình, không kiếp này thì kiếp khác. Do đó, đền ơn cha mẹ một cách đầy đủ và hiệu quả nhất, theo nghĩa rộng, là hướng dẫn càng nhiều chúng sanh về với con đường tu tập đạo đức càng tốt. Nói cách khác, đền ơn cha mẹ hay trả hiếu theo tinh thần Đạo Phật có ba cấp độ. Ở mức thấp nhất, một người chăm sóc cha mẹ hiện tiền về phương diện vật chất là thể hiện tiểu hiếu. Trung hiếu là chúng ta khéo hướng dẫn cha mẹ hiện tiền an trú trong chánh pháp. Thực hiện đại hiếu là dìu dắt tất cả những người có duyên, vốn là cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp của mình, ngày càng tiến bộ nhiều hơn về phương diện tinh thần và tâm linh. Với tâm lượng như thế, trả hiếu hay đền ơn cha mẹ không phải là trả lại cha mẹ những gì mình đã thọ nhận, mà phạm vi đền ơn và đối tượng mình trả ơn cần mở rộng ra: “… nuôi con tức đền ơn cha mẹ, dạy chúng sanh mới là đền ơn tứ đại. .. còn mình thì mang công ơn của đất nước lửa gió cỏ cây thú người trời Phật…” (Chơn Lý, Ăn chay, tr.198). Ngài lại dạy: “Còn đối với bậc trí huệ lớn lao thì tất cả chúng sanh là cha mẹ muôn đời, ta phải báo hiếu chung bằng sự dạy dỗ đạo lý, là ta phải tu hành cho thành đạo đắc-quả trước, rồi mới độ họ sau, chớ không đền trả bằng cơm áo sanh con.” (Chơn Lý, Nam và nữ, tr. 122). Ngài dạy người cư sĩ tại gia rằng “… nuôi con tức đền ơn cha mẹ; hoặc người có học, thì phải lo tu đặng giáo hóa, cứu độ cả chúng sanh chung, mà đền ơn thí chủ cha mẹ muôn đời mới phải. (Chơn Lý, tr. 255, Cư sĩ)

Chơn lý của võ trụ là nương nhau mà sống, thọ ơn và trả ơn nhau xoay chuyền trong vòng tiến hóa chung. Bản chất duyên sinh của cuộc sống được Đức Tổ Sư nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong Chơn Lý cho chúng đệ tử khắc ghi, để mọi người biết sống vì người khác trong tinh thần biết ơn và đền ơn. Ngài dạy “người giúp ta, ta giúp lại kẻ khác, ai cũng sanh nơi cha mẹ gốc vốn, và phải nương theo chỗ sanh gốc vốn ấy một lúc đầu. Về sau ta mới biết tự lo cho ta và đền ơn cha mẹ, là ta giúp đỡ nuôi dạy lại kẻ khác.”(Chơn Lý, Ngũ uẩn, tr. 27)

Như vậy, trong cuộc sống cộng sinh và tương duyên, không nhất thiết khi nhận ở người nào, ở đâu, thì chúng ta phải trả người đó, ở đó mới được. Ơn là ơn tất cả nên việc gì làm lợi ích cho người cho đời đều là biểu hiện của lòng biết ơn và đền ơn. Một khi ý thức được mình thọ ơn nên cần phải biết thi ơn, chúng ta nên mang trong lòng hoài niệm đó và trong khả năng mình, thể hiện sự đền ơn với bất cứ đối tượng nào, bất cứ khi nào họ cần đến, trong bất cứ hoàn cảnh nào phù hợp với tâm bao dung rộng lớn để cùng sống, cùng chia sẻ và cùng tiến hóa. Vô cảm với nỗi đau của người khác, đóng kín cửa lòng khi người khác cần đến là chúng ta tự bước lui xuống địa vị thấp thỏi hơn địa vị con người. Đức Tổ Sư dạy:

Kẻ có dư nên bố thí giúp cho người thiếu, ta cho người vay, người trả lại cho kẻ khác, kẻ khác nữa trả lại ta, khi ta thiếu, hụt; chan hòa cho nhau, theo lẽ lăn xoay tiến hóa của võ trụ, chớ đừng lại đi lui, mà phải đụng chạm, trở ngại cho nhau. Nếu là kẻ thật hiền, thì phải thấy rõ mục đích sanh ra đời là để học, công ơn cơm áo của cỏ cây thú người Trời Phật, đất, đất nước lửa gió, từ xưa nay phải rán lo đền trả bằng cách thi đậu đắc quả làm Phật, thuyết pháp cứu độ đông người, theo lòng mong cầu của họ.” (Chơn Lý, Cư sĩ, tr. 255)

Ngài còn dạy: “nuôi con tức đền ơn cha mẹ, trả nuôi lại người khác thì mới đủ. Nhược bằng con nuôi lại cha thì nuôi trả, không được trọn, vì cha già chết sớm, mà còn lại khổ vô ích vì nhau. Chơn-lý ấy để trừ tham, diệt khổ, dạy cho người hiền, tấn hóa để an vui.” (Chơn Lý, Nam và nữ, tr. 122).

Rõ ràng ý pháp của Đức Tổ Sư dễ dàng nhận ra ở đây rằng, nếu ta thọ ơn một người nào đó mà trả ơn ngay lại cho người đó thì vòng quan hệ của ta chỉ khép kín trong vòng nhỏ hẹp của hai cá nhân. Chi bằng ta mở rộng vòng tay tình người, gieo duyên thêm với nhiều người khác bằng cách thọ ơn người này, ta lại chủ động thi ơn cho người khác với tâm niệm trả ơn, rồi người ấy tiếp tục gieo duyên thi ơn với người khác nữa cùng trong tâm thế đó. Như thế, vòng nhân duyên gắn kết nhau tự mình mở rộng ra một cách tự nhiên để rồi chúng ta càng ngày càng mở rộng vòng tay thân ái với nhiều người và coi tất cả như người thân yêu của mình. Thêm người thân thì bớt người thù, đó là lẽ tất nhiên ở đời. Một khi coi tất cả trong thế giới đại đồng này đều là ân nhân thì rõ ràng, ăn thịt thú vật là ăn thịt chính người thân yêu, người ân của chính mình. Đức Tổ Sư dạy: “Ta ăn thịt thú là ăn thịt mẹ cha chẳng là vong ơn bội nghĩa bất hiếu hay sao?”(Chơn Lý, Ăn chay, tr. 203). Như vậy, khái niệm ‘báo hiếu’ trong Đạo Phật có ý nghĩa rộng hơn và đòi hỏi nghiêm ngặt hơn.

Trong Chơn Lý, Đức Tổ Sư ba lần lặp lại: “Nuôi con tức đền ơn cha mẹ” (tr. 122, 198 và 255) để nhắc chúng ta nhớ đến mối liên kết duyên sinh giữa mình và mọi người để thoát ra tâm lý đền ơn là trả lại cho chính người mình thọ ơn. Với cách đền ơn ‘dây chuyền’ này, tâm chúng ta cảm thấy rộng mở, thoáng đãng, thoải mái, nhẹ nhàng hơn, khi thọ ơn một người, ta không cần tìm ngay đến người ấy để trả ơn ngược lại, vì làm như thế, vẫn không đủ và không trọn để gọi là đền ơn và dễ tạo ra tâm lý co cụm, khổ sở và bất an. Đến đây, chúng ta thấy được ý nghĩa sâu xa của việc đền ơn là tự nguyện thi ơn với người khác trong ý pháp của Đức Tổ Sư, đó là trừ tham, diệt khổ, dạy cho người hiền thiện tấn hóa để an vui.

Tài liệu tham khảo:

Minh Đăng Quang, Chơn Lý, Nhà xuất bản TP. Hồ Chí Minh, 1998.

Tăng Chi Bộ Kinh, HT. Thích Minh Châu dịch, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành, 1996

Trung Bộ Kinh (tập III), HT. Thích Minh Châu dịch, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành, 1992

Tương Ưng Bộ Kinh, HT. Thích Minh Châu dịch, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành, 1997.

Liên Trí - Nguồn Đạo Phật Khất Sĩ

Họ & tên
 Địa chỉ
 Email
 Địa chỉ
Điện thoại:
Chủ đề
Nội dung:
(Phần chữ in đậm là bắt buộc.)
Nhập mã xác nhận:  
Tôi đồng ý gửi thông tin này đến ban quản trị website.

CÁC BÀI VIẾT KHÁC TRONG MỤC :Khất Sĩ Phật Việt › Nghiên cứu