Đang tải dữ liệu ...
Chào mừng quý vị đến với Diễn đàn Phật học Vườn Tâm          Chào mừng quý vị đến với Diễn đàn Phật học Vườn Tâm    
Khất Sĩ Phật Việt › Nghiên cứu
Cập nhật: 22/09/2013 
Pháp ngữ Hòa thượng Giác Giới tại khóa tu truyền thống của Hệ phái lần thứ 9
Theo sự nhất trí trong Hệ phái, khóa tu truyền thống Giới - Định - Tuệ lần thứ 9 được diễn ra tại đạo tràng Tịnh xá Ngọc Hưng do Giáo đoàn III đăng cai tổ chức. Đây là một điều rất quý giá vì nó tạo thuận duyên cho chư Tăng tu học đúng chánh pháp nhà Phật và đường lối của Tổ Thầy. Trong thời buổi hiện nay, tình hình Phật giáo nói chung và Khất Sĩ nói riêng đều đang đứng trước nhiều khó khăn và thử thách. Vật chất thịnh hành đã làm cho phiền não chúng sanh ngày càng tăng, ảnh hưởng đến nếp sống phạm hạnh của hàng xuất gia. Chúng là những nội ma lẫn ngoại ma cản bước chư hành giả thành tựu Sa-môn quả.

Từ xưa đến nay, tu học nơi các đạo tràng có nhiều tiện nghi vật chất, người tu thường dễ bị cám dỗ. Bằng chứng là trên thực tế đã có nhiều vị Sư trong lẫn ngoài Hệ phái sa ngã và hoàn tục. Do đó mới thấy rằng con đường đi đến Thánh quả luôn bị khó khăn bởi thói quen hưởng thụ dục lạc qua phương tiện vật chất bên ngoài. Chuyện tu học không phải là chuyện giản đơn, cho nên chư Tôn đức luôn quan tâm vấn đề củng cố và phát huy đời sống phạm hạnh cho hàng hậu học.

Đường lối Khất Sĩ từ thời Tổ sư qua các đức Thầy và cho đến ngày nay luôn quyết tâm làm trang nghiêm hội chúng. Sự ra đời của những khóa tu truyền thống này chính là phương cách để chúng ta tu tập trở về đời sống trong sạch cho xứng với phẩm hạnh của hàng Sa-môn thuở nào.

Trong suốt ba năm qua, các khóa tu đã đạt được nhiều thành quả nhất định. Điều này làm tăng trưởng đức tin cho chư Tăng và cư sĩ trong Hệ phái. Chúng ta tin tưởng rằng đường lối này sẽ đưa chúng ta hướng về chân trời giác ngộ tối hậu.

Đức tin là một điều quan trọng và cần thiết trong sự tu hành và hành đạo. Chúng ta cần mượn đức tin để thúc đẩy sự tinh tấn cho mình và làm phương tiện độ sinh. Đại đa số quần chúng xã hội đều ưa thích những gì hiển linh và thường đặt trọn đức tin vào những điều linh ứng khác thường. Tuy nhiên, họ không hiểu rằng vạn vật dù hữu tình hay hay vô tình đều có tánh linh riêng của nó. Tánh linh hay sự linh ứng đó được Tổ sư gọi là Thần mật. Theo quan điểm của Tổ thì vạn pháp do có tánh linh nên đều có thể phát sinh ra thần mật. Ở những người tu hành thì đó là thần thông. Thần thông có ra là do ba cái mật: thân mật, khẩu mật và ý mật. Cho dù tu theo ngoại đạo hay theo Phật giáo cũng đều có thể chứng đắc thần thông nhưng khác nhau ở mục đích tu hành.

Chúng ta cần phải biết rằng: thần thông là kết quả tự nhiên khi thực hành thiền định. Nó không phải là mục đích giải thoát. Nhiều hành giả không thông suốt vấn đề này nên sa vào nhiều cực đoan, từ đó không thể chứng đạt sự giác ngộ rốt ráo.

Cực đoan thứ nhất là ham thích thần thông. Hàng ngoại đạo dùng kỹ năng tập trung tâm bằng một lòng ham muốn thần thông mãnh liệt nên đã từ bỏ gia đình, vào rừng sống độc cư và chuyên tâm tu tập các phương pháp chứng đắc thần thông. Nhờ lòng nhiệt thành và dụng công nghiêm mật nên họ cũng đạt được sự linh ứng kỳ diệu. Tuy nhiên, thần thông này dễ mất. Thực tế mà nói, thần thông chỉ là pháp hữu vi, vẫn nằm trong giới hạn của thế gian pháp nên tính chất của nó là vô thường, có sanh, có diệt. Khi dụng công cao độ, họ có thể chứng đắc nhưng khi tâm xao lãng thì đứt mất phép linh ngay.

Tích truyện Phật giáo có kể về sự kiện như vầy: Thuở xưa có một vị tiên nhơn tu hành trên núi tuyết. Ông tu tập tinh tấn chứng đắc thần thông có thể phi thân theo mây gió. Nhà vua ở dưới chân núi vô cùng hâm mộ nên thường mời vị tiên này về hoàng cung cúng dường và nghe vị tiên giảng dạy đạo lý. Với thần thông của mình, vị tiên ấy bay đến hoàng cung thăm vua rồi dùng thần thông bay về núi. Một hôm nọ, vua có việc đi xa. Vị tiên ấy bay đến hoàng cung được hoàng hậu tiếp rước. Hoàng hậu vì kính phục đã quỳ xuống và hôn chân vị tiên. Có ngờ đâu vị tiên ái nhiễm sự xúc chạm đó mà mất hết thần thông. Không còn thần thông, vị tiên nhơn đành phải ngậm ngùi đi bộ về núi. Từ đó, ông chuyên tâm tu tập và không còn tiếp xúc nhân gian.

Cực đoan thứ hai là sử dụng thần thông để mưu cầu danh vọng. Kẻ tà ác thường dùng thần thông để mưu cầu điều này. Khi bá tánh bị thu phục bởi sự hiển linh do chúng bày ra, họ đặt niềm tin vào việc cúng tế phẩm vật. Điều hiểm nguy cho kẻ tà ác là liên tục lợi dụng thần thông tạo nghiệp xấu ác. Từ đó ác nghiệp tăng trưởng cho đến khi luân hồi sa đọa vào những cảnh giới khổ đau.

Một điều dễ thấy là, khi con người đặt niềm tin vào sự hiển linh của người nào thì luôn nghe theo những gì người đó nói. Đây chính là nguyên nhân mà nhiều việc thờ cúng và tế lễ thần linh ra đời từ xưa cho đến nay. Biết bao tội ác đã hiển bày trong các cuộc tế lễ bởi sự cuồng tín thần linh qua sự chỉ dạy của những ngoại đạo tà kiến đã diễn ra trong lịch sử nhân loại.

Kinh Kutandanta trích từ Trung Bộ, đã diễn tả lại rất chi tiết điều này. Tại một xứ nọ nhà vua cho mời các thầy cúng chuẩn bị tế lễ thần linh để cầu phúc. Vua xuất tiền vàng trong kho cho họ mua sắm 7 loại sinh tế, mỗi loại 500 con, cộng chung là 3500 con sanh tế. Rất nhiều nô bộc bị sai sử vào rừng đốn cây, làm 3500 cái cọc để cột những con sanh tế. Họ bị bắt phải đào một cái hố lớn và chất củi vào để chuẩn bị làm một hố lửa khổng lồ. Họ lại phải đi cắt loại cỏ cát tường để lót các loại sanh tế. Khi vào lễ tế, các nô bộc sẽ cắt cổ những con vật, đổ máu vào hố lửa cho các thầy cúng tụng đọc nghi thức dâng hiến thần linh. Trong khi đó, các con vật kêu la thảm thiết, các loài cây rừng và cỏ bị chặt phá, mồ hôi tuôn chảy trên tấm lưng và khuôn mặt vất vả của các nô bộc. Có một vị Bà-la-môn chuyên làm nghề tế lễ này, sau khi nghe tin đức Phật đến, ông bèn tìm đến yết kiến và thưa hỏi về việc tế lễ. Khi nghe Bà-la-môn hỏi về tế lễ, đức Thế Tôn không trả lời ngay mà đã kể chuyện tiền thân của mình. Thuở nọ, tiền thân Phật là một người chủ tế. Khi vua yêu cầu tế lễ, người chủ tế này tập hợp quần chúng nhân dân không phân biệt giai cấp làm lễ cúng bằng sữa, đường và mật. Cuộc tế lễ đó không đốn chặt cây rừng hay cỏ dại, không có con vật bị giết và không có sự khổ cực của các người nô bộc. Khi nghe đức Phật kể như vậy, ông Bà-la-môn hoan hỷ và tán thán đây quả là tế đàn hiền thiện. Sau đó, Bà-la-môn tiếp tục hỏi về các tế đàn hiền thiện khác, đức Thế Tôn lần lượt trả lời về các tế đàn hiền thiện như: Xây cất đạo tràng, quy y Tam bảo, thọ trì giới pháp, xuất gia tu hành, thọ trì giới bổn Patimokkha, phòng hộ các căn, thiểu dục tri túc, chú tâm cảnh giác, chánh niệm tỉnh giác, chứng đạt sơ thiền đến tứ thiền, liễu tri tứ đế và thành tựu Tứ quả Sa-môn. Bà-la-môn nghe xong khởi lên chánh kiến, xin quy y Tam bảo trở thành người Phật tử. Sau đó, ông cho người trở về phóng sanh hết các loài sanh tế và giải phóng hết những người nô bộc.

Theo bản sớ giải của Trường Bộ Kinh có viết: Phàm tất cả tế lễ dù là ác hay là thiện đều nằm ngoài Phật pháp. Rõ ràng, một khi ham mộ thần thông con người thường sa ngã vào sự cuồng tín và dễ đưa đến các việc làm xấu ác.

Cực đoan thứ ba là dụng công nhiều nhưng kết quả vô ích. Như trên đã nói, thần thông chỉ là phần thứ yếu có ra do kết quả thiền chứng. Chúng không bao giờ chấm dứt được con đường sanh tử luân hồi. Nếu bỏ hết thời gian và tâm trí vào việc mưu cầu thần thông thì cả đời tu tập luống công vô ích.

Trong kinh đức Từ Phụ có kể rằng: Có một đạo sĩ tu đắc thần thông có thể phi thân sang sông mà không cần thuyền bè. Mọi người rất nể phục và tán thán ông. Từ đó, ông rất cao ngạo về sở chứng của mình. Một hôm, đức Thế Tôn gặp ông sử dụng thần thông như vậy bèn hỏi rằng: “Đạo sĩ tu tập mất bao lâu mới đắc được thần thông như vậy?”. Đạo sĩ trả lời: mất 30 năm. Đức Phật quở rằng: “Sang sông chỉ cần tốn 3 xu, tại sao lại lãng phí đến 30 năm”.

Ở đây, đức Phật không phủ nhận thần thông nhưng nếu lạm dụng nó thì việc tu hành bị trở ngại rất lớn.

Cực đoan thứ tư là lầm lạc và hưởng thụ quả chứng. Thiền là sự an tịnh nội tâm. Khi vào các tầng thiền, tâm hành giả cực kì vắng lặng và có thể đắc đến ngũ thông. Nếu không có đạo sư hướng dẫn hoặc không đủ trí tuệ nhận định, chúng ta rất dễ ngộ nhận đây là quả chứng sau cùng. Điều này làm con đường tu tập không tiến triển mà có nguy cơ bị chặn đứng. Trong thời gian tầm đạo, đức Phật đã chứng kiến nhiều trường hợp như thế này. Chính do không đủ sức nhận ra các pháp cao siêu hơn quả chứng đang có nên nhiều người tu hành bấy giờ không thể nào đại ngộ. Bằng chứng là hai vị thầy lỗi lạc là Alara Kalama và Uddaka Ramaputta đều đạt đến thiền Vô sắc mà vẫn phải chịu luân hồi. Các thiền chứng đó chỉ là trạng thái hưởng lạc của cảnh giới chư Thiên ở cõi Vô sắc nên khi hết phước báu vẫn phải đọa lạc xuống các cảnh giới thấp hèn mà thôi.

Trong thời Phật tại thế, có vị Bà-la-môn tên là Bàhiya Dàraciriva tu tập đắc định với tâm vắng lặng của mình, ông tự tuyên bố mình là một trong những vị A-la-hán. Chư thiên đến mách bảo rằng: “Ông không phải là A-la-hán và cũng không đi trên đường đến quả vị A-la-hán”. Chư thiên khuyên ông đi đến gặp Phật để cầu học. Khi đến bái kiến thì nhằm lúc đức Thế Tôn đang trì bình khất thực. Với tâm hâm mộ giáo pháp, ông đến đảnh lễ và xin Phật chỉ dạy. Đức Phật nói rằng: “Ngài đang khất thực không tiện thuyết pháp”. Bàhiya thưa rằng: Khi Thế Tôn khất thực xong không biết là ông còn sống không? Và nếu còn sống không biết là còn tâm cầu học giáo pháp không? Xin Phật thuyết pháp liền. Trước tâm tha thiết đó, đức Phật bèn thuyết pháp cho ông. Nghe xong, Bàhiya liền thọ trì lới Phật dạy và chứng đắc A-la-hán trong thời gian đức Phật khất thực.

Thời đại ngày nay, chúng ta không đủ phước duyên là người đại căn đại trí, cho nên phải tiệm tu và luôn chánh niệm thận trọng trong khi tu hành. Khi chúng ta hành thiền, nếu đúng lộ trình và có hiệu quả thì những thiền tướng xuất hiện. Đây là những kết quả sơ khởi biểu hiện một sự ấn chứng ban đầu. Chúng ta đừng bao giờ lấy đó làm kết quả cuối cùng.

Về phương diện thần thông, Tổ sư Minh Đăng Quang khẳng định: “Phép thần thông có ra là do ba cái mật. Thân mật là không hay làm; Khẩu mật là không hay nói; Ý mật là không hay tưởng nhớ”.

Như vậy, sự thần thông quả linh ở đây dựa trên thân, khẩu và ý. Nó trở thành tầm quan trọng cho người tu hành và chỉ có con đường thiền định mới thành tựu ba cái mật này. Người tu Phật phải biết giữ gìn tam nghiệp vắng lặng để phát triển thiền định. Nếu tâm đạt đến sâu sắc khi an trú vào các tầng thiền thì đây mới thật là kết qua hiển linh cần thiết. Nhưng kết quả thần thông từ ba cái mật này chúng ta sử dụng để làm gì?

Khi Phật còn tại thế, một hôm Ngài giảng giáo pháp có một người cư sĩ rất hoan hỷ bèn đảnh lễ đức Thế Tôn, cầu xin Thế Tôn cho các đại đệ tử dùng thần thông để truyền đạo. Đức Phật không chấp nhận. Ngài dạy rằng: “Có ba loại thần thông là tha tâm thần thông, biến hóa thần thông và giáo hóa thần thông. Người đệ tử Phật chỉ nên sử dụng giáo hóa thần thông mà thôi”.

Do vậy, kết quả của thiền về phương diện thần thông không phải sử dụng như một loại du hí thần thông tầm thường mà phải sử dụng nó làm phương tiện tiến tu.

Đức Phật từng sử dụng các pháp môn thiền của ngoại đạo đương thời mà thành tựu sự giác ngộ. Tuy chứng đắc các thiền chứng nhưng Ngài nhận thức nó không đưa đến yểm ly, đoạn tận khổ đau. Từ bỏ con đường tu khổ hạnh, Ngài thọ thực và nhớ lại một kinh nghiệm thời thơ bé. Lúc đó Ngài chừng 7 tuổi, khi tham dự lễ Hạ điền đã nhập Sơ thiền. Ngài tự hỏi rằng: trạng thái an lạc do ly dục, ly ác bất thiện pháp sanh đó có trở ngại gì cho sự giác ngộ chăng? Và tự thấy không có gì trở ngại mà ngược lại còn tạo điều kiện thuận lợi hơn, nên Ngài nhập Sơ thiền cho đến Tứ thiền. Với tâm định tĩnh, Ngài hướng tâm đến sự thật về thế giới, liễu tri Tứ đế, đoạn sạch phiền não và chứng thành Phật quả.

Sau khi thành Chánh giác, Ngài chuyển pháp luân tại Lộc Uyển với những lời dạy rất sâu sắc: Đây là khổ các ông cần phải liễu tri; đây là sự thật về khổ, các ông cần phải đoạn tận.

Đây là lời dạy mà chúng ta cần phải chiêm nghiệm thật kỹ càng. Cái biết của liễu tri là cái biết từ thiền minh sát (thiền quán), còn thiền vắng lặng (thiền chỉ) chỉ đưa đến trạng thái lạc do định tâm. Nhờ vào thiền quán, hành giả mới phát khởi trí tuệ như thật thấu tỏ khổ về mọi mặt trong cõi dục, cõi sắc và cõi vô sắc. Trí tuệ sắc bén này là sự thành tựu chánh tri kiến, từ đó mới có thể đoạn tận khổ trong tam giới.

Tuy nhiên, để đến với tâm định và tuệ giải thoát đó, Tổ sư nhấn mạnh rằng: “Muốn đắc sanh thần mật, thì cần phải giữ giới, giới xuất gia Khất Sĩ của Tăng, mới đúng giới thanh tịnh, thu thúc lục căn, tam nghiệp. Có giữ giới cụ túc 250 điều ấy, mới ngăn dứt được nghiệp trần, tạo nên người giải thoát ở cảnh vắng êm, nhờ cảnh vắng mới tạo sanh tâm vắng, tâm vắng là miếng đất của Niết bàn kỳ diệu”.

Việc căn bản ban đầu của thần thông hay của trí tuệ như thật phải xây dựng từ nền tảng của Thánh giới. Giới đó phải là giới cụ túc được truyền thừa từ thời Phật đến nay. Nếu không xây dựng giới điều căn bản ban đầu mà lại mong cầu phép linh thần thông thì đã đi xa với chánh pháp. Hơn lúc nào hết, ngay trong khóa tu này chúng ta phải kiên tâm, trì trí thực hành trọn vẹn đời sống trong sạch đúng chánh pháp. Phải làm sao cho xứng đáng với danh tự Sa-môn theo như lời của đức Phật dạy trong bài kinh Xóm ngựa trích từ Kinh Trung Bộ: “Này các Tỳ-kheo, nếu có ai hỏi các ông là ai các ông phải tự nhận mình là Sa-môn. Để nói đúng sự thật, để lời nói đó không phải la lời nói dối các ông phải thực hành các pháp tác thành Sa-môn. Thế nào là các pháp tác thành Sa-môn?

1. Đầy đủ tàm quý.

2. Thân hành thanh tịnh.

3. Khẩu hành thanh tịnh.

4. Ý hành thanh tịnh.

5. Sanh mạng thanh tịnh.

6. Hộ trì các căn.

7. Tiết độ trong ăn uống.

8. Chú tâm cảnh giác.

9. Chánh niệm tỉnh giác.

10. Đoạn trừ năm triền cái.

11. Chứng đắc tứ thiền.

12. Thành tựu tam minh, đắc A-la-hán”.

Bài kinh mang nội dung thức tỉnh rất sâu sắc. Đây là những nếp sống căn bản không thể thiếu cho người tu hành.

Điều đầu tiên là đức tính tàm và quý. Tàm quý ở đây là tâm hổ thẹn đối với các ác pháp. Do nhiều đời sanh tử nên thói quen của chúng ta luôn hướng về ác pháp. Những gì là ác pháp? Tham lam là ác pháp, sân hận là ác pháp và si mê là ác pháp. Chúng là những cấu uế của tâm, là con đường đi vào ác đạo. Một hành giả tu hành cần phải biết hổ thẹn với chúng. Luôn tỉnh giác nếu chúng khởi lên trong tâm cần phải thấy rõ, cần phải đề phòng và cần phải dập tắt nó.

Điều thứ hai là tam nghiệp thanh tịnh. Nghiệp là thai tạng, là kết quả đeo đẳng chúng sanh không bao giờ rời. Nhưng đa phần chúng sanh bị hoen ố trong nghiệp bất tịnh. Chính vì vậy mà thân có sát sanh, trộm cắp, tà dâm; khẩu có nói dối, thêu dệt, đâm thọc, ác khẩu; ý có tham, sân, si. Đây là mười điều ác làm chúng sanh trôi lăn mãi trong sáu nẻo luân hồi. Hành giả tu Phật muốn dứt sạch mười điều ác này không có phương cách nào khác hơn là phải thọ trì giới luật. Khi vào khóa tu, trong mọi lúc phải quán chiếu về thân hành, khẩu hành và ý hành có thanh tịnh hay chưa? Ngoài những giới pháp căn bản đã thọ, hành giả còn phải chỉnh thúc oai nghi, tế hạnh và khép mình vào nội quy chung. Có như vậy, tam nghiệp mới được gột rửa bụi nhơ và trở về thanh tịnh. Chừng tam nghiệp thanh tịnh rồi thì đạo quả bồ đề mới có ngày chứng đắc.

Điều thứ ba là mạng sống phải thanh tịnh. Mạng sống ở đây là sự nuôi mạng chân chính hay còn gọi là chánh mạng theo Bát chánh đạo. Điều này đã được Tổ sư truyền thừa qua hạnh tu Tứ y pháp. Mạng sống thanh tịnh của nhà sư Khất Sĩ phải lấy bốn việc làm phương châm: trì bình khất thực hàng ngày chỉ trừ duyên sự mới không đi, mặc y bá nạp kết lại từ vải bỏ nhưng vẫn nhận y do tín chủ cúng dường, ở nơi gốc cây vắng vẻ nhưng vẫn được ở tại những trú xứ thích hợp và dùng thuốc đơn sơ nếu có bệnh hoạn, ốm đau. Đây là bốn pháp mà chư Phật hành trì, chư Tổ hành trì, chư vị đức Thầy hành trì, nay đến chúng ta cần phải hành trì. Nếu cuộc sống bên ngoài vướng víu những Phật sự không thể thực hành Tứ y pháp thì vào khóa tu là cơ hội để chúng ta sống lại đời sống trong sạch này. Có như vậy, mạng sống chúng ta mới chân chánh, xứng đáng là những nhà sư Khất Sĩ.

Điều thứ tư là sự tiết độ trong ăn uống. Với tâm chánh niệm cao, một hành giả mới có thể tiết độ được việc thọ thực hàng ngày. Cần phải hiểu rằng thọ trai là để duy trì mạng sống để tu tập và hành đạo, chứ không phải thọ dụng sự khoan khoái trong khi ăn. Hãy thực hành như hình ảnh của hai vợ chồng ăn thịt đứa con mà đức Phật từng kể: Ở một xứ nọ có hai vợ chồng dẫn một đứa con đi qua một sa mạc với lượng lương thực vừa đủ. Không may họ bị lạc đường mà lương thực đã hết. Hai vợ chồng bàn bạc cần phải chọn điều nào ít tai hại nhất. Cuối cùng họ ăn thịt đứa con trong sự đau đớn để bảo vệ lợi ích to lớn hơn. Người tu hành khi thọ thực cũng phải tiết độ và khởi lên tâm niệm như hai vợ chồng kia. Vì để giữ gìn chánh pháp, vì giữ thân cho mục đích lớn lao hơn nên mới tạm thọ dụng món ăn này.

Điều cuối cùng là luôn duy trì chánh niệm. Cần phải chú tâm cảnh giác trong tứ oai nghi: đi, đứng, nằm, ngồi. Trong Luật Khất sĩ, Tổ sư đã dạy cặn kẽ về Thập lục hạnh cho chúng ta thực hành. Hành ở đây là dùng tâm chánh niệm để làm phương tiện hành thiền, còn gọi là thiền trong mỗi lúc. Như vậy thì, khi đi gọi là hành thiền, khi đứng gọi là trụ thiền, khi ngồi gọi là tọa thiền, khi nằm gọi là ngọa thiền. Sâu sắc hơn, chúng ta luôn rõ biết từng tiểu oai nghi cho đến các hành tướng của thân. Trong một bữa ăn hòa chúng, điều này dễ thực tập nhất. Chúng ta phải chánh niệm tỉnh giác khi múc một muỗng cơm không quá to vì muỗng cơm to khi đút vào miệng rất khó coi và tướng của miệng khi nhai cơm không trang nghiêm. Chú ý tém gọn muỗng cơm không cho va chạm vào thành bát phát ra tiếng kêu. Khi nhai cần phải rõ biết mình đang nhai, rõ biết hương vị thức ăn và rõ biết khi nuốt. Cần phải chánh niệm đây là món ngon làm ta hoan hỷ, thích thú thì rõ biết chúng là tâm tham. Chánh niệm rõ biết một miếng ăn đắng, cay, chát làm tâm khó chịu thì nó thuộc về tâm sân. Còn một muỗng cơm mà ta không nhận thức rõ thì nó thuộc về tâm si. Như vậy, với tâm chánh niệm tỉnh giác trong một bữa ăn mà ta đã tiếp xúc được với dòng tâm thức của mình đang hiện khởi như thế nào. Duy trì được phép chánh niệm này là đã thực tập thiền trong toàn bộ thời gian sống. Một người định tĩnh như vậy mới xứng đáng là người tu Phật.

Trong Thanh Tịnh Đạo Luận, có kể câu chuyện rất ý nghĩa về tâm chánh niệm này qua cuộc đời của một bậc trưởng lão nọ. Sách viết thuở nọ tại một đạo tràng có một vị trưởng lão xuất gia tu học thuở còn thiếu niên. Suốt mấy mươi năm Ngài tinh tấn tu hành không phạm một lỗi nhỏ nhặt nào. Khi tuổi xế chiểu Ngài được mọi người kính nể và tán thán. Ai cũng cho rằng bằng sự tu tập tinh nghiêm như vậy, nếu vị trưởng lão này không chứng quả thì không ai chứng quả. Một hôm, trưởng lão lâm trọng bệnh sắp qua đời. Hội chúng tụ tập quanh giường bệnh thăm viếng và thưa hỏi: “Trưởng lão đã chứng quả chưa?”. Ngài trả lời: “Chưa”. Mọi người ai cũng tỏ ra thất vọng. Vị trưởng lão bèn nói: “Sở dĩ ta chưa chứng quả vì muốn chờ Phật Di Lặc ra đời, nếu đại chúng muốn ta đắc qua thì hãy đỡ ta dậy”. Mọi người nghe theo lời đỡ Ngài ngồi dậy và lui bước. Khi chưa đến cửa đã nghe trưởng lão gọi lại và xác chứng là Ngài đã thành tựu đạo quả. Tất cả hội chúng đều tán thán đây là việc hy hữu khó làm. Ngài bèn giáo huấn rằng: “Việc chứng quả có khó gì, còn có một việc khó hơn. Đó là từ khi ta xuất gia tu học từ thời thiếu niên đến giờ không có hành động nào của ta mà không có chánh niệm. Đây mới thật sự là việc khó làm!”.

Từ đó mới thấy, con đường thành đạo đắc quả nào đâu xa vời. Nó nằm ngay trong sự tỉnh thức của chúng ta. Khóa tu đã đặt ra thời khóa nghiêm mật, phương pháp hành trì và hoàn cảnh rất thuận tiện, chúng ta chỉ còn việc có tu học chân chính và bền tâm hay không mà thôi.

Tóm lại, con đường tu hành luôn đi từ thấp lên cao. Con đường đó vẫn còn lưu dấu trong kinh tạng nhà Phật và được Tổ sư xác chứng và làm sống lại nếp sống phạm hạnh của Phật Tăng xưa. Chúng ta mang danh là người Khất Sĩ chỉ cần đi đúng đạo lộ này thì thần thông quả linh, hay quả Niết-bàn giải thoát có thể nằm trong tầm tay. Điều quan trọng nhất là luôn luôn soi rọi thân, khẩu, ý vào trong luật nghi và giới pháp. Tự tỉnh giác và xét xem về đạo hạnh của mình có vẹn toàn hay chưa? Luôn luôn un đúc vào giới luật như vậy thì phạm hạnh mới tròn đầy. Đã có đủ duyên phước và tự mình phát tâm tham dự khóa tu, chư hành giả cần phải tận dụng từng thời khắc quý báu để tinh tấn tu hành. Bảy ngày rồi sẽ qua, trăm năm rồi cũng đến, chúng ta đừng để hối tiếc khi trong tay đang có đầy đủ thuận duyên cho con đường giải thoát. Hãy nhất tâm, hòa ý trên dưới một lòng học tập giáo pháp, thực hành giáo pháp để cùng nhau chứng đạt giáo pháp.

TK. Minh Điệp lược ghi Nguồn Đạo Phật Khất Sĩ

Họ & tên
 Địa chỉ
 Email
 Địa chỉ
Điện thoại:
Chủ đề
Nội dung:
(Phần chữ in đậm là bắt buộc.)
Nhập mã xác nhận:  
Tôi đồng ý gửi thông tin này đến ban quản trị website.

CÁC BÀI VIẾT KHÁC TRONG MỤC :Khất Sĩ Phật Việt › Nghiên cứu