Đang tải dữ liệu ...
Chào mừng quý vị đến với Diễn đàn Phật học Vườn Tâm          Chào mừng quý vị đến với Diễn đàn Phật học Vườn Tâm    
Khất Sĩ Phật Việt › Nghiên cứu
Cập nhật: 20/10/2013 
Tinh thần Bồ Tát qua Chơn Lý của Tổ sư Minh Đăng Quang
A. DẪN NHẬP Phật giáo có mặt trên thế gian với hạnh nguyện chính là lợi mình và lợi người. Đây là hai nguyên tắc trọng yếu được vạch ra cho người tu hành. Trong suốt 45 năm hoằng pháp, đức Phật cũng chỉ nói: “Này các tỳ-kheo, hãy ra đi, mỗi người mỗi phương vì hạnh phúc, vì an lạc cho đời, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư thiên và loài người. Các ngươi hãy công bố giáo pháp sơ thiện, trung thiện và hậu thiện”[1].

Tiếp nối lời dạy đó, ở miền Nam Việt Nam, Tổ sư Minh Đăng Quang đã xuất hiện, khai sơn hệ phái Khất Sĩ, xiển dương giáo pháp với phương châm: “Nối Truyền Thích Ca Chánh Pháp, Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam”. Ngài đem chánh pháp vào đời với mục đích vì hạnh phúc cho nhân sinh, vì Phật pháp được xương minh. Ngẫm lại giai đoạn này, thời cuộc còn hỗn loạn, lòng người chưa yên, Phật giáo trong giai đoạn xuống cấp. Nên Ngài nói rằng: “Chúng tôi sanh trong thời loạn, thấy cảnh thương tâm, mong tìm phương cứu chữa…”[2]. Trong khoảng thời gian trên dưới mười năm, đức Tổ sư đã vạch cho mình một con đường đi và được gọi là “Khất Sĩ”. Người Khất Sĩ ấy phải sống và hành trên nền tảng giáo lý căn bản của đức Phật: “…Người khất sĩ chỉ có một lối tu học vắn tắt, đó là giới định huệ”[3]. Chính giáo lý và đời sống của Ngài đã độ hóa rất nhiều Tăng Ni Phật tử hưởng ứng, đi theo tu tập. Không những thế, Ngài đã dùng mọi phương tiện để cứu vớt hàm linh, nhiếp hóa chúng sanh quy ngưỡng giáo lý Phật-đà. Một lòng phát bồ-tát hạnh, nguyện phụng sự độ đời, đem hạnh phúc cho nhân sinh. Hình ảnh đó đã thể hiện qua nhiều nét rất đặc sắc.

B. NỘI DUNG

I. Khái quát ý nghĩa Bồ-tát

Trước hết về hình ảnh Bồ-tát, trong Từ điển Phật Học Huệ Quang có ghi chép:

Bồ-tát (P.bodhi-satta; S.bodhi-sattva; H. 菩 薩) gọi đủ là bồ-đề-tát-đỏa (H. 菩 提 薩 埵) nghĩa là người tu hành trên cầu thành Phật bằng trí huệ, dưới hóa độ chúng sanh bằng tâm từ bi, tức là người đầy đủ hai hạnh: tự lợi, lợi tha và dõng mãnh cầu thành Phật.[4] Trong Phật Học Phổ Thông, Bồ-tát được hiểu là một hữu tình đã giác ngộ (giác hữu tình) hoặc hữu tình giác. Tức là sau khi tu hành thành mãn, giải thoát giác ngộ rốt ráo; vị ấy liền đem pháp giác ngộ dạy khắp chúng sanh, hay là:

Trước tu lấy độ thân mình,

Sau lo độ tận chúng sinh mê lầm.

Bồ-tát có hai hạng: Bồ-tát phàm và Bồ-tát thánh. Bậc Bồ-tát phàm là còn ở trong 3 quả: Nhập Lưu, Nhứt Vãng Lai, Bất Lai, chưa đủ lục thông, kêu gọi là tập tu hạnh Bồ-tát, tập làm việc pháp thí, chớ chưa phải Bồ-tát thiệt thọ; nghĩa là chữ Bồ-tát là giác tha rất rộng, mỗi một việc làm phải nào cũng gọi là pháp giác tha Bồ-tát được hết. Cư sĩ thiện nhân chư thiên, mà biết làm việc pháp thí, tu tập phước huệ để cho mau dứt nghiệp, đặng đi xuất gia, cũng gọi là tu hạnh Bồ-tát vậy. Tất cả chúng sanh,cũng đều gọi là Như Lai tử, hay Bồ-tát tử được hết, tịnh là Như Lai, động là Bồ-tát. Cư sĩ là Bồ-tát tập tu, theo phép lục độ vạn hạnh, chớ chưa đắc lục độ vạn hạnh. Ðắc lục độ vạn hạnh, là chỉ có Khất-sĩ Bồ-tát mới được.[5]

Dưới lăng kính nhà thiền, hình ảnh Bồ-tát Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền,… cả thảy là những hình tượng mang nội hàm ý nghĩa rất sâu sắc, là những bậc thấu rõ con đường một lòng cầu Phật đạo nên phát đại Bồ-đề tâm, xả thân vào đời làm viên mãn các Ba-la-mật, với hướng tâm cầu thành Phật và nhiếp hóa chúng sanh.

Theo lý nghĩa Đại thừa, hình ảnh tượng cốt các vị Bồ-tát nhằm làm phương tiện gieo duyên thiện tâm đến Phật pháp để tu tập, cho những người chưa biết Phật pháp quay về bến giác, chuyển hóa mê tâm, tìm về chơn lý giải thoát. Những hình tượng Bồ-tát ấy không phải đơn thuần chỉ bày ra để thờ lạy cúng kiến suông. Xong, bên trong hình ảnh ấy là chỉ dạy cho chúng sanh biết quay về chân tâm, nhìn tâm thấu trí để chuyển mê khai ngộ.

II. Tinh thần lợi sinh qua một số lời dạy trong Chơn Lý

Hạnh nguyện mang hạnh phúc đến cho chúng sanh, cư gia bá tánh là vấn đề được quan tâm trong chí nguyện của đức Tổ sư Minh Đăng Quang. Đức hạnh đó đã được bàn bạc rải rác trong Chơn Lý rất rõ.

Trước hết, trong Bài Học Khất Sĩ, bài kinh mà chúng ta tụng đọc trong giờ độ ngọ hàng ngày hầu đánh thức chánh niệm của người tu trong việc thọ nhận vật phẩm cúng dường và nhất tâm chứng minh cho tín chủ được phước báu mỹ mãn:

Tín chủ cúng dường Phật Pháp Tăng

Chứng minh công đức nhờ Tam bảo

Chú tâm nguyện độ thiện duyên này

Tín chủ đời đời thêm phước báu.

Sở cầu, sở ý đều thành tựu

Tín nhớ, hạnh y, nguyện trở về

Nay mới gieo nhơn, nhơn chánh giác

Sau này chứng quả, quả Bồ-đề.

Ðây thể lòng từ Phật Pháp Tăng,

Vì tâm thành kính biết ăn năn,

Ðem cho tín chủ phước thanh tịnh,

Xin lấy cho mình nghiệp khó khăn.

Tín chủ từ đây đặng nhẹ nhàng,

Bến mê thoát khỏi chốn lầm than,

Tiêu diêu khoái lạc y Tam bảo,

Ðắc quả kiếp nay thành Phật đạo.[6]

Với hình thức thể loại thất ngôn, ngắt nhịp theo vần kệ, gồm bốn đoạn mười sáu hàng, đức Tổ sư chỉ dẫn người xuất gia khi thọ nhận vật phẩm cúng dường thời phải hướng tâm đến phúc chúc cho tín chủ thành tựu mọi phước thí và nhờ phước báu ấy tiến lần đến tu tập để có thể chứng đạo giác ngộ. Ở đây, Tổ sư không những chỉ chứng minh cầu nguyện cho tín chủ có được phước báu nhơn thiên, mà còn đưa tín chủ tiến lần đến sự tu tập những nấc thang cao hơn để đạt giác ngộ, giải thoát. Giống như người ta làm ác lớn, mình làm ác nhỏ để họ theo; người ta ác nhỏ mình làm thiện nhỏ để họ theo; người ta làm thiện nhỏ mình làm thiện lớn họ theo; cứ như thế dìu họ lần lên đến bố thí, trì giới, xuất gia,… trí tuệ. Ðiều này khế hợp với kinh điển như đức Thế Tôn giảng nói.[7] Ngài cũng trình bày thuận thứ từ những bước căn bản như bố thí rồi mới đến trì giới, sanh thiên đến xuất gia rồi tu định và tu tuệ.

Ðặc sắc là ba câu: đem cho tín chủ phước thanh tịnh, xin lấy cho mình nghiệp khó khăn, tín chủ từ đây được nhẹ nhàng… đã hiện tinh thần dõng mãnh của một vị xuất gia phải có chí nguyện cao thượng mang trọng trách làm lợi ích cho quần sanh, tha nhân. Người tu hành ăn cơm Phật, mặc áo Phật, phải lấy trọng trách làm lợi ích chúng sanh đặt lên hàng đầu. Ðó chính là tinh thần Bồ-tát, mới đúng nghĩa ngay thuở ban đầu phát nguyện: huỷ hình thủ khí tiết, cát ái từ sở thân, xuất gia hoằng Thánh đạo, nguyện độ nhất thiết nhân.

Hơn nữa, đức Tổ sư đã chỉ bày cho chúng sanh thấy rằng người đời đau khổ, chia rẽ, chiến tranh là bởi ích kỷ, tham lam, bám víu, níu chặt. Cho nên Ngài dạy rằng cái lý của sự sống phải nương nhau và phải biết hướng tới một lối sống theo lẽ đạo như một Khất Sĩ. Do đó, Ngài đưa ra 4 nét đặc sắc của người Khất Sĩ: “Không chen lộn trong đời về chỗ ở, không bận về vấn đề ăn mặc, không tiền, bình đẳng vô trị. ”[8]

Phải vậy, muốn có một đời sống nhẹ nhàng để làm việc lợi sinh, người xuất gia phải sống đúng như hạnh của Khất Sĩ thanh thoát, nhẹ mình trau tánh sửa tâm, làm phúc lạc cho nhân sinh. Vì Ngài suy nghĩ rằng: “Ta là tất cả, tất cả là ta, ta sống cho tất cả, tất cả sống cho ta, tiếng ta đây là tất cả”.[9] Vì rằng theo đúng chơn lý của đại đồng: Thân này là của tất cả, tất cả là của thân này, tiếng ta là chung toàn thể, chẳng phải riêng tôi.[10]

Lại nữa, việc hành đạo đem hạnh phúc vào đời thực không phải dễ, người hành đạo phải lấy pháp trung đạo làm lẽ phương châm thức thời để tránh những điều khổ não. Trong Chơn Lý, Ngài dạy: “Nếu thái quá thì có ngày bất cập, sao cho bằng sự thường bền là tốt hay hơn. Đạo là mực trung, lợi ích cho cả ta và người mới phải… Khất Sĩ là trung đạo chánh đẳng chánh giác vô thượng, của bậc giác ngộ ông già, rất ít, rất khó chẳng hay khó gặp trong đời, chúng sanh dầu khổ nạn đến đâu, chỉ cần một người Khất Sĩ cũng đủ giải cứu, độ thoát cho tất cả trọn vẹn, mà khỏi cần phải số đông nhiều người sức lực, lại không xong. Trong mọi nơi nhóm họp, ngoài Khất Sĩ chẳng tham sân si ra, không lời nói nào được ai tín nhiệm mạnh mẽ. Trong mọi sự biến cố của gia đình, bất hoà của xã hội, xung đột giữa anh em… Ngoài Khất Sĩ ra, không còn ai là bậc cứu tế giải hòa can gián, vì Khất Sĩ có đủ ba báu: Giới, định, huệ.[11]

Nhìn từ góc độ xuất gia, lìa bỏ cảnh đời, cha mẹ anh em quyến thuộc bằng hữu, nhà cửa… một lòng chọn con đường Thánh đạo, quyết đạt đến giác ngộ; chúng ta không thể phủ nhận trách nhiệm hay chểnh mảng lười mỏi trong vấn đề tu học và truyền đạt hạnh phúc cho tha nhân được. Một đời sống trọn đời dấn thân vô ngã vị tha là nếp sống luôn được chân lý chấp nhận. Người hành bồ-tát đạo quyết trọn một lòng làm đạo ‘thà chịu mòn chớ không để bị rỉ sét’, không lòng tư kỷ, đi trọn con đường đến hồi công viên quả mãn.

III. Nét đặc sắc theo lối trì bình Khất Thực cổ Phật

Trong nếp sống người tu hành, khất thực là một nếp sống không phải là do Tổ sư hay một ai chế ra mà là hạnh lành của ba đời chư Phật. Phép sống ấy là nét đẹp văn hóa trong lòng người con Phật. Chính pháp sống này là phương cách nhuần nhuyễn để tiếp độ tha nhân đến với đời sống thiện, đạt thành giác ngộ. Trước đây, đức Tri sự Giác Như[12] chỉ nhìn thấy uy nghi đi khất thực của Tổ sư mà phát khởi tâm bồ-đề, dấn bước xuất gia cầu học theo Ngài. Do đó hạnh trì bình khất thực là nếp sống độc đáo dễ dàng đi vào đời làm lợi ích cho chúng sanh mà bình sinh người bình thường khó làm được.

Bởi Tiếng “Khất” có nghĩa là xin, lẽ xin là chơn lý của võ trụ, mà chúng sanh, kẻ thì xin vạn vật để nuôi thân, người thì xin các pháp để nuôi trí... Xin cái ác, xin điều thiện, xin đạo đức, xin quả người Trời Phật, xin vật chất, xin tinh thần, xin địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh; Ðất xin nước, đất mới sống khỏi chết khô; cỏ cây xin đất nước mới sanh chồi mọc nhánh. Thú xin đất nước cỏ cây, mới có đi chạy. Người xin thú cỏ cây đất nước lửa gió mới có nói làm. Trời xin người thú cây tứ đại mới sanh thức trí. Phật lại xin nơi Trời người thú cỏ cây tứ đại, mới được giác chơn. Ngược lại với lối sống xin ăn của những người mà Tổ sư cho là tham ác tội lỗi, tham sân si mãi là của những bậc cản trở tâm cầu giác ngộ lợi đạo ích đời.

Nói chung là có hai thứ xin:

Xin vật chất (vạn vật) để nuôi thân. Xin tinh thần (các pháp) để nuôi trí. Có đủ thân trí mới sanh tâm là Phật. Từ xin để nuôi thân, như cỏ cây thú, đến lần xin để nuôi trí là người Trời Phật.[13]

Người Khất Sĩ là người không không cái chi, giải thoát mọi ràng buộc vật chất nặng nề nên cuộc sống đi đâu, ở đâu… cả thảy đều phải xin, xin rồi cho; cho rồi xin cứ như thế mà cuộc sống giải thoát, nhẹ nhàng, như nhiên.

Mục đích đi khất thực không phải lại để xin ăn, để thoả mãn những nhu cầu vật thực, mà như đức Tổ sư dạy:“…Khất Sĩ đi xin để răn lòng tội lỗi. Ði xin để đền nghiệp cũ, đặng sớm nghỉ ngơi, mau hết vốn lời. Ði xin để nhịn nhường bố thí của cải lại cho chúng sanh. Ði xin để làm gương nhơn quả tội lỗi cho chúng sanh ngừa tránh. Ði xin để đừng phạm tội lỗi mới. Ði xin để có thì giờ ăn học. Ði xin để giáo hoá chúng sanh. Ði xin để không tự cao, dốt nát, danh lợi, sắc tài. Ði xin để giải thoát phiền não, và để un đúc tâm hồn, rèn luyện chí hướng, tập sửa bản năng. Có đi xin mới có từ bi hỷ xả, trí tuệ thông minh, cõi lòng mát dịu, rộng mở bao la, lặng yên sạch sẽ. Có đi xin ăn học mới là thiện, kẻ không đi xin thất học là không thiện… Khất Sĩ có ba bậc: Thinh Văn, Duyên Giác, và Bồ Tát.[14]

Nếu việc đi xin có thể thực hiện trọn vẹn được thời người Khất Sĩ mới đúng nghĩa chân thật của Khất Sĩ, vừa có thể tự lợi buông xả mọi chướng ngại nơi thân tâm và lợi tha đem hạnh phúc cho chúng sinh.

Ði xin làm cớ hóa duyên,

Cho người gieo giống phước điền vào sâu,

Lần hồi thức tỉnh quay đầu,

Ấy là phương pháp gồm thâu sĩ hiền

Vì đời cuộc thế đảo điên,

Nên Tăng làm mối cơ viền chúng sanh

Ðứng ra dẫn lộ thực hành,

Ấy là món thuốc trường sanh cứu đời.

Ðức Thế Tôn cũng đã từng khẳng định điều này qua câu kinh được ghi lại trong Kinh Pháp Cú:

Khất thực không, không đủ;

Ai vượt qua thiện ác;

Chuyên sống đời phạm hạnh;

Mới xứng gọi Tỳ- kheo”.[15]

Chúng ta phải thấy rằng hình ảnh đẹp này, trong giai đoạn Phật giáo hiện đại gần đây, không được tôn trọng như xưa. Nó sẽ dần phôi pha nếu không được ý thức và nuôi dưỡng. Vì đây chính là chất liệu làm sống lại hình ảnh Phật Tăng xưa, làm khơi dậy lòng tịnh tín của thiện tín cư gia, là một hình thức sống động đem đạo vào đời một cách gần gũi và thiết thực nhất. Bởi phần đông thiện tín là giới trung lưu và những người có nền kinh tế thấp, Tăng nhân phải là bần Tăng vào đời khất thực hóa duyên, tạo điều kiện thuận lợi nhất để cho số đông thiện tín phát khởi lòng tin, giúp họ gieo trồng phước báu và quy hướng về Phật pháp.

IV. Tính phương tiện hoằng pháp lợi sinh của Tổ sư

Ngay từ tuổi còn nhỏ, Ngài đã ý thức về nỗi khổ của con người. Nhận thấy đời sống con người phải đối mặt với nhiều vất vả khó khổ, nên phải đua chen vật lộn với đời rồi tạo ra những bức bách khổ đau. Do đó, có lần Ngài xin theo cha qua Miên học những pháp thuật với tâm nguyện là để giúp đời. Nhưng đến khi tìm được con đường giải thoát cho chính mình rồi, đức Tổ sư đã vận dụng tất cả tâm lực đem đạo vào đời, sử dụng nhiều phương tiện tùy duyên để có khả năng chuyển tải giáo pháp Thế Tôn cho nhân chúng.

Quả thật đạo Phật là đạo của tùy duyên không thái quá và bất cập. Tuy trong một số quyển Chơn Lý, Ngài lại bác bỏ rất nhiều hình thức nghi lễ cúng kiến làm nhiễu loạn mê hoặc lòng dân, bày biện ra nhiều hình thức tông giáo rực rỡ như trong quyển “Thờ Phượng”, Ngài cho rằng những phương tiện nghi lễ cúng kiến cầu nguyện “là cách cứu vãn mua chuộc đạo Phật, và cầu siêu giảm đoạ cho kẻ thế ngạo mạn. Chớ chẳng phải nơi đó là chỗ chứa, để đặng phát ra cho thiên hạ xác thân bình yên mạnh giỏi, các Phật Tăng chơn chánh là sẽ thuyết pháp dạy đạo, lo tu làm gương chớ nào ỷ lại vào sự làm giả tạm ấy. Vì các sự bán rẻ đạo pháp xa xí huỷ hoại ấy cầu danh mưu lợi tuy có được sự ích lợi mau lẹ rộng nhiều thật, nhưng mà chỉ giúp cho chúng sanh được ham vui trong chốc lát, rồi thì về sau phải đọa khổ muôn đời… Những ai bày ra lắm sự hữu vi sắc tướng phá Phật, giết đạo, mê hoặc chúng sanh mãi, tội lỗi khổ báo ấy chẳng vừa đâu. Kẻ ấy dầu có được nhờ phước hữu lậu đó để sanh lên cõi trời kia đi nữa, thì họ cũng phải chịu khổ báo mãi, bởi những cố chấp nặng nề đọa lạc, khó trông gì giác ngộ vượt nghiệp, bước qua đến được Niết-bàn vô lậu an vui thiệt thọ của Phật.[16]....

Ấy thế mà đối với Ngài, đức Tổ sư lại sử dụng nhiều phương tiện để truyền đạt như tổ chức nhà in Pháp Ấn, dùng loa phóng theo xe để đọc kệ kinh truyền pháp, vào phòng kín để thu âm, đi xe hơi… những phương tiện được xem là đi trước thời đại. Lại nữa, trong một số tranh ảnh truyền thống để lại cho thấy hồi thời Tổ sư vào những ngày lễ cúng, Tổ lại cho phép hàng Phật tử trưng bày rất nhiều lễ vật, hoa hòe sặc sỡ, rồng phụng uốn éo. Việc ấy cho thấy đâu phải Ngài quá khô cứng trong việc làm đạo mà chứng tỏ Ngài cũng rất uyển chuyển.

Việc hành đạo không phải lúc nào cũng thuận buồm xuôi gió. Thuận cũng có mà nghịch cũng rất nhiều. Có những lúc người hành đạo không bền tâm kiên chí cũng rất dễ dàng thối tâm từ bỏ. Đứng trước những thử thách đó, đức Tổ sư cũng từng thốt lên: Tôi phải làm sao? Quá trình tu tập từ cư sĩ đến xuất gia ở chùa, đến Khất Sĩ du phương, giai đoạn nào cũng bị chỉ trích; tức làm gì cũng bị chê trách, từ lúc ác đến thiện, đến xuất gia, đến các phương pháp hành đạo. Vì …. lẽ đời, Ngài ngộ ra rằng: Có như thế rồi mới xét lại kỹ rõ hơn rằng: Phải dung hòa, không sở chấp, mực giữa hãy tạm đi mới là xuôi thuận. Kìa chư Phật dạy: Phép định huệ song tu, động có, tịnh có, có đạo có đời, đạo đời hiệp một, động tịnh không hai, định huệ chẳng khác, ấy mới kêu là đạo, đạo là một, một lẽ giữa, mới kêu là trung đạo.[17] Nhờ đó trong thời gian làm đạo không bao lâu, Ngài đã xây dựng rất nhiều tịnh xá, tiếp độ đồ chúng rất đông, cư gia thiện tín quy tụ rất nhiều. Điều này đã nói lên con đường của Ngài đi rất chân thực, lời dạy của Ngài nương theo chư Phật rốt ráo được ý nghĩa, ánh quang minh chói lọi thật sự mang lại lợi ích cho chính mình và cho tha nhân, cho cả hai.

C. KẾT LUẬN

Con đường của Khất Sĩ là chánh chơn thiện, đem pháp an vui cứu đời; không phải là những pháp đơn thuần chỉ chuốc cầu vị kỷ. Bởi ‘pháp tỷ như nước năng rửa sạch bụi nhớp’, là giáo pháp ba đời chư Phật mà nay được Tổ sư Minh Đăng Quang làm rạng tỏ. Chính giáo lý Y Bát Khất Sĩ, khất thực du phương tìm đường chơn lý của cổ Phật, vào nẻo đường đời đã thật sự lợi ích cho tha nhân. Với giáo lý cô đọng, ngắn gọn Giới – Định – Tuệ đã thật phù hợp chơn lý, phương châm hành đạo cứu thế nhân sinh đã theo pháp ấy mà ngời sáng trên khắp vạn nẻo đường, từ Nam cho tới miền Trung nước Việt. Đúng như nghĩa câu nói: “Chỗ nào chúng sanh cần con đến, chỗ nào đạo pháp cần con đi. Không ngại gian lao, không nài khó nhọc” nhờ đó hệ phái Khất Sĩ đã trở thành một thành viên trụ cột trong lòng Giáo hội, góp phần xây dựng nước nhà yên vui hạnh phúc, nhân sinh an lạc.

[1] ĐTKVN, HT. Thích Minh Châu (dịch), Tương Ưng I, Ban Tu thư HVPG TP.HCM, 1982, tr.128.

[2] Tổ sư Minh Đăng Quang, Chơn Lý “Hòa Bình”, số 51.

[3] Chơn Lý “Khất Sĩ”.

[4] Thích Minh Cảnh (Chủ biên), Từ Điển Phật Học Huệ Quang, Nxb TP. HCM, 2003, tr. 582; Từ Bồ-tát dành để cho cho người tu hành Đại thừa cầu thành Phật, kể cả hàng Thanh Văn, Duyên Giác chuyển tâm cầu thành Phật thì cũng được gọi là Bồ-tát. Còn những vị đại Bồ-tát ở địa vị Đẳng Giác phát tâm cầu vô thượng chánh giác thì gọi là Bồ-tát Ma- ha-tát, Bồ-đề-tát-đỏa, Ma-ha Tát-đỏa, Ma-ha Bồ-đề Chất-đế Tát-đỏa…

[5] Chơn Lý Tông Giáo … “Vì người xuất gia Khất sĩ là đã Bố thí hết rồi tài thí, thân thí, một lần rồi đi tu, và đang hành pháp thí; NHẪN NHỤC là đi xin ăn mỗi buổi sáng và mặc đồ hoại sắc, y bát một bộ; TINH TẤN là đi hoài không ở một chỗ; TRÌ GIỚI là giữ 250 giới xuất gia trọn đủ; THIỀN ÐỊNH là nhập đại định dưới gốc cây; TRÍ HUỆ là cắt đứt phiền não bằng sự thuyết pháp, tham thiền, luận đạo. Người Khất Sĩ có thể đắc quả Thánh hiện tại là nhờ sự xuất gia giải thoát, lục căn thanh tịnh, đủ phép lục thông, thành A-la-hán, rồi kế đó đi tu thiền định thêm thành Bích-chi và sau trở lại giáo hóa chúng sanh làm BỒ-TÁT THÁNH, có nhiều kiếp Bồ-tát Thánh mới đắc qủa NHƯ LAI, hay ÐẠI A-LA-HÁN, PHẬT. Nơi đây BỒ-TÁT THÁNH ấy mới cao hơn bậc A-la-hán thánh vậy. Người cư sĩ ráng lắm thì sau khi chết mới đắc lục thông thành A-La-Hán, chớ hiện tại còn đang sống, thì cũng khó mà đắc ba quả: Nhập Lưu, Nhứt Vãng Lai, và Bất Lai được; cũng như các sư khó mà đắc quả A-la-hán, Bích-chi, Bồ-tát lắm. Và cư sĩ thì chưa rồi độ bố thí, nhẫn nhục, tinh tấn, ráng lắm là đắc ba quả phàm này; chớ trì giữ 250 giới cụ túc, để thu thúc lục căn thanh tịnh là chưa, chưa nhập đại định được, và cũng chưa phải là bậc trí huệ, diệt hết phiền não, như bậc Bồ-tát pháp sư, tham thiền, luận đạo, thuyết pháp đặng. Cư sĩ thì chẳng đắc đặng thần thông.

 [6] Luật Nghi Khất Sĩ.

[7] HT. Minh Châu (dịch), Kinh Trường Bộ I, Kinh số 5 - Kùtadanta (Cứu La Đàn Đầu).

[8] Chơn Lý “Hòa Bình ”.

[9] Sđd.

[10] Chơn Lý “Pháp Chánh Giác”.

[11] Chơn Lý “Thờ Phượng”.

[12] Ngài được đức Tổ sư giáo phó trách nhiệm Tri sự trong Tăng đoàn Khất Sĩ.

[13] Chơn Lý “Khất Sĩ”.

[14] Sđd.

[15] Kinh Pháp Cú, 266-267.

[16] Chơn Lý “Thờ Phượng”.

[17] Chơn Lý “Đạo Phật Khất Sĩ”.

TK. Minh Nhật - Đạo Phật Khất Sĩ

Họ & tên
 Địa chỉ
 Email
 Địa chỉ
Điện thoại:
Chủ đề
Nội dung:
(Phần chữ in đậm là bắt buộc.)
Nhập mã xác nhận:  
Tôi đồng ý gửi thông tin này đến ban quản trị website.

CÁC BÀI VIẾT KHÁC TRONG MỤC :Khất Sĩ Phật Việt › Nghiên cứu