Đang tải dữ liệu ...
Chào mừng quý vị đến với Diễn đàn Phật học Vườn Tâm          Chào mừng quý vị đến với Diễn đàn Phật học Vườn Tâm    
Văn học Phật giáo › Tùy bút
Cập nhật: 08/10/2014 
Đường lên núi Không
Trong bối cảnh lịch sử Trung Quốc đời nào cũng thế, từ ngàn xưa cho đến nay không biết bao nhiêu cảnh chết chóc đã xẩy ra cũng chỉ vì lòng tham vô tận mà con người đắm chìm trong dục lạc như: danh vọng- địa vị, quyền tước, sắc dục... luôn luôn tìm đủ mọi cách hại người tước đoạt của cải, thảm cảnh ấy ai cũng có thể thấu hiểu những nỗi đoạn trường khi gia đình bị quân giặc giết sạch. Bảo Nguyên là nạn nhân sợ hãi chạy trốn hướng lên núi nhưng chúng không tha vẫn cố đuổi theo. Cùng đường Bảo Nguyên không đủ sức chống cự giữa sự sống- chết cách nhau chỉ gang tấc.

Mãnh hổ nan địch quần hồ.” Một con hổ mạnh không địch nổi một đàn chồn. Một người khỏe không chống nổi đám đông.
Thế nhưng, con người ai nấy cũng có số mạng... Bảo Nguyên lên tới gần triền núi bị bao vây bước lùi, bước lùi từng bước đến vực thẳm lúc nào chẳng hay xẩy chân rơi xuống hố sâu. Bọn giặc nhìn thấy thế, đắc chí cười kha khả cho rằng hắn không còn trên cõi đời này nữa... nhưng nhờ vào sự nhiệm mầu... Bảo Nguyên đã được người cứu thoát. Sau  nhiều ngày hôn mê khi đã tỉnh dậy thân thể ê ẩm, toàn băng trắng quấn cùng người, tay chân trói chặt, Bảo Nguyên quá đỗi ngạc nhiên nhìn cảnh vật chung quanh khác hẳn và buột miệng nói rằng: “Nơi đây là nơi nào, ai đã cứu tôi”. Chung quanh toàn là vách đá tối tăm chỉ có một vài kẽ hở cho ánh nắng chiếu vào. Kêu rên nài nỉ chẳng ai trả lời, Bảo Nguyên lúc bấy giờ từ từ nhớ lại những gì đã xẩy ra từ nhiều ngày qua, chàng cựa quậy cố mở ra những băng vải chung quanh người nhưng không được, bèn la lên rằng: “Có ai đó xin làm ơn cứu tôi với”. Bỗng nhiên có người xuất hiện với giọng nói hiền từ: “Con hãy nằm yên, để ta điều trị vết thương không được cựa quậy độc sẽ lan ra khắp người”.
Bảo Nguyên thiếp đi vì lo sợ không biết chuyện lành hay dữ xẩy ra, miệng luôn thì thầm niệm: “...Cứu khổ, Cứu Nạn Quán Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát” để trấn an sự sợ hãi nhưng tâm trí càng bối rối thêm... Rồi chàng rơi vào trạng thái bất an, ngất xỉu thêm lần nữa. 
Cho đến một hôm không nhớ bao lâu, sau giấc ngủ triền miên tưởng rằng đã đứt hơi thở... Bảo Nguyên mở mắt ra thấy mình vẫn còn nằm trong hang động với ngọn nến lung linh. Bên cạnh chỗ chàng nằm là một ông lão tóc bạc phơ đang ngồi bên siêu thuốc, trông dáng người phương phi, với bộ râu dài bạc phơ đạo mạo, xuất phàm, khác hẳn với những người lớn tuổi mà chàng đã từng gặp, tại Hàng Châu, Trung Quốc...
Lão Ông thong thả tiến lại chỗ nằm của chàng nói rằng:
Ngươi từ đâu đến, tại sao thân thể toàn đầy thương tích, ai đã hành hung như vầy?”
Bảo Nguyên im lặng không trả lời, mà còn hỏi lại: 
Xin lỗi! Lão ông là ai mà tốt bụng với tôi như thế, xin lão ông cho biết quý danh?”
Được! Ngươi cứ gọi ta là Lão Bá được rồi. Còn việc khác thì  ta sẽ nói sau...”
“Bảo Nguyên an tâm chẳng nói thêm lời nào nữa, ngoài câu:
Cám ơn Lão Bá cứu mạng cho con, ơn này xin ghi mãi chẳng bao giờ quên...”
Đứng dậy, từ nay trở đi ta sẽ đặt cho con tên là Tuệ Giác và con phải vâng lời ta, nếu không thì...”
Nghe nói vậy Bảo Nguyên mừng rỡ, được Lão Bá nhận làm đệ tử còn gì vui mừng bằng, chẳng khác nào kẻ khát gặp nước, người đói có cơm ăn. Chàng đứng thẳng người lên xin lạy tạ sư phụ đã thâu nhận...!
Ba tháng sau, Tuệ Giác được cải trang cùng Lão Bá dời đi tới một nơi xa vắng thị thành. Ngày ngày Tuệ Giác vào rừng đốn củi và đốt than đem xuống núi đổi lấy lương thực mang về. Bấy giờ Tuệ Giác mới thấm thía cuộc đời là thế đó, thay trắng đổi đen. Ngày xưa là một công tử giàu có, lúc nào cũng ăn ngon mặc đẹp, không chịu học hành, võ nghệ cũng biếng nhác chỉ ham chơi, vui đùa trác táng cùng chúng bạn. Giờ thì khác hẳn Tuệ Giác không phải là Bảo Nguyên năm xưa và chàng đã ý thức được cuộc đời thăng trầm...
Nhớ lại khi xưa Bảo Nguyên họ Tống con của một vị quan trong triều, khi bọn phản loạn nổi lên giết cha chàng và tất cả thân nhân. May mắn thay chỉ còn chàng sống sót, cho nên mỗi khi nhớ lại chuyện cũ chàng luôn luôn gắng công học tập... văn cũng như võ miệt mài với thời gian, mong  một ngày nào đó trở về lại quê cũ khôi phục giang san. Đời sống hẩm hiu của hai thầy trò mai danh ẩn tích này ít ai biết đến. Nay đây-mai đó, dần dà Tuệ Giác không còn là một thư sinh công tử nữa mà trở nên rắn chắc, dày dạn gió sương. 
Năm tháng trôi qua Tuệ Giác đã am hiểu đạo lý làm người nên được sư phụ dạy cho võ công và cách luyện nội lực. Tuệ Giác đã đi sâu đời sống khắc khổ của người dân lành dưới thời đại, luật pháp hành xử theo kiểu “Phép vua thua lệ làng”. Xã hội thời nào cũng thế, con người ta như một tuồng kịch trên sân khấu, kẻ mạnh và quyền lực bao giờ cũng lấn áp người cô thân yếu thế. Thật ra cũng chẳng ngoài hai chữ “Lợi, danh” mà thế giới đảo điên... Dòng tư tưởng đang chảy dài mà Tuệ Giác vẫn còn suy tư,  bỗng nhiên có tiếng gọi của sư phụ từ xa vọng lại “Tuệ Giác ơi!!!...”
Trở về thực tế, trước mặt sư phụ chẳng nói năng gì, nhưng sư phụ đoán ra những ý tưởng của Tuệ Giác, lên tiếng nói rằng:
Ngày mai chúng ta lên đường, con hãy thu xếp hành trang, nên đi nghỉ sớm.”
Vâng, thưa sư phụ ngày mai chúng ta sẽ đi đến đâu vậy?”
Đến nơi rồi sẽ biết, đừng hỏi nhiều.” Gương mặt sư phụ khác hẳn mọi khi, Tuệ Giác im lặng trở về chỗ nghỉ ngơi.
Mặt trời đã lên cao, hai thầy trò cứ lầm lũi vượt qua những đám tre xanh rì, có lúc thì phải lội suối, băng rừng biết bao ngày đường nhưng vẫn chưa đến nơi...
Trong tâm trí của Tuệ Giác không hiểu sư phụ dẫn đi đâu mà cuộc hành trình quá gian nan như thế. Tuệ Giác vai mang gùi, tay cầm rựa đi trước dọn đường, phạt những lùm cỏ cao ngất đầu. Sư phụ thì chống trượng đi sau. Cho đến chiều bóng hoàng hôn gần tắt hẳn chỉ còn những tia nắng yếu ớt vương vấn lại, cảnh trí ở đây thật hữu tình, nếu như Tuệ Giác là nhà thơ thì tuyệt đấy nhỉ! Đang nghĩ vẩn vơ thì nghe tiếng nước suối chảy róc rách.
Có nước suối rồi sư phụ ơi!” Vừa dứt lời, Tuệ Giác quay lại nhìn thấy sư phụ đã ngồi trên một tảng đá lớn bên cạnh túi hành trang trong tư thế kiết già tĩnh tọa giống như một thiền sư đang thiền định. 
Tiếp đó Tuệ Giác nằm xoãi người trên đám cỏ non xanh mướt. Thấy vậy, sư phụ quở: 
Trai tráng sao mà yếu thế, nội công chưa thâm hậu cố gắng lên nhé!”
Thưa sư phụ, đường còn xa không?”
Chẳng buồn trả lời, sư phụ lặng lẽ như chẳng có gì xảy ra! Không gian như dừng lại, cảnh trí ở đây thật tuyệt diệu dòng suối róc rách cây cỏ xanh tươi, gió thổi hiu hiu, hoàng hôn xuống hẳn, màn đêm kéo đến.
Bất chợt sư phụ hỏi: 
Mệt lắm hả con?”
Dạ con chưa thấm mệt đâu!” Tuệ Giác mỉm cười nói, “địa điểm nơi ấy là đâu? Sao đi hoài chẳng đến?”
Sư phụ đáp:
Đường đi không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông. Con sao vội vã đến thế. Không Động.”
Tuệ Giác liền đáp: 
Nghe qua cái tên con khỏe người ra rồi.”
Sư phụ cười ha hả chẳng nói thêm lời nào nữa. Tuệ Giác đưa mắt lên nhìn đỉnh Bạch Vân chẳng thấy gì, ngoài cảnh vầng trăng thượng tuần còn yếu ớt chưa tỏ đủ ánh sáng về đêm.
Thấy vậy, sư phụ bèn nói rằng: 
Mau thế nhỉ! đã gần đến rằm tháng Tư rồi”.
Sáng hôm sau cảnh trí ở đây thật tuyệt vời, nhìn lên đỉnh núi những cụm mây trắng bàng bạc,  trên những triền núi xanh, xa bạt ngàn. Những đám sương mù chưa kịp tan vẫn còn lơ lửng trên thinh không tạo nên một bức tranh thủy mạc vĩ đại thật yên lành và thanh bình. Tiếng chim rừng lảnh lót hòa cùng tiếng suối reo. tạo nên một âm điệu thánh thót vang vọng rất xa, chẳng khác nào cảnh bồng lai trong mộng.
Vào buổi sáng khí trời lành lạnh nhưng Tuệ Giác vẫn nhẩy ùm xuống suối bơi lội nhởn nhơ với dòng nước. Lát sau, Tuệ Giác leo lên một tảng đá thiệt to và ngồi phơi nắng.
“Đến đây, hình như mình đi lạc vào  thế giới khác sư phụ nhỉ! Đúng như mình vừa sanh vào một thế giới mới, một cảnh giới thanh tịnh, không có phiền não và đua chen, rất hiền hòa không một mảy may bon chen hệ luỵ và thù hằn, tranh chấp... Thế mà lâu nay sư phụ dấu con, không cho con đi đến đây.”
Sư phụ ôn tồn nói:
“Từ đây, theo dòng suối đi lên, chừng nửa buổi ta sẽ đến Huyền Không Sơn Thượng, tức là đến Không Động. Con đừng vội háo hức như thế bất lợi cho con về sau. Đừng vội mơ tưởng mà cũng đừng vội trách sư phụ. Vì sao vậy? Vì Không Động nó khác với Không Động ở trong ý niệm- dự- phóng của con. Đúng vậy! con sẽ thất vọng đấy. Ngoài ra, nếu trong lòng con mà chưa đạt được cảnh giới ‘không động’ thì bất cứ cảnh giới nào trên trái đất này nó cũng đồng nghĩa với Sinh diệt.” 
Tuệ Giác suy nghĩ một lát rồi hớn hở mang gùi lên vai và tiếp tục cuộc hành trình lên núi Không Động.
“Thưa sư phụ chúng ta hãy đi, và đi nhanh hơn nữa. Con thừa sức kham nhẫn cái ‘Không Động’. Con đã quá chán những cảnh xảo trá lừa phản của thế gian, nào thất tình lục dục, tiền tài, danh vọng, địa vị quyền chức... còn nhiều hơn thế nữa. Ôi chúng quả thật chán ngán ...! Đi sư phụ hãy cho con đến ‘Không động’. Để cho con ca bài, nắng sớm, hát với mây chiều reo đùa với ánh trăng thanh Ôi! tuyệt diệu làm sao...! Với cảnh hương đồng, gió nội đất nước thái bình không còn chém giết lẫn nhau, từng ngày từng giờ... Để cho con được sống an lành với quê hương ‘Không Động’ muôn thuở của con người trên thế gian này an lành.”
Tuệ Giác ngồi trên tảng đá nói thao thao, bất tuyệt quên cả vũ trụ và cảnh vật chung quanh, quên hẳn sư phụ đang đứng sau lưng. Thấy vậy, sư phụ vỗ nhẹ lên vai Tuệ Giác nói rằng: 
Con đã tuôn ra những lời bất mãn thế thái... muộn phiền có phải không? Những phẫn nộ ấy như một con thác tuôn trào từ đỉnh cao, con biết thế không? Về với Không Động là nơi tu tĩnh an nhiên, vắng lặng tâm hồn không chút muộn phiền, con còn những tâm sự, những bực dọc, những uất hận, những bực bội dẫy đầy phiền não trong tâm trí, những bi quan, đầy hỷ nộ, ái, ố như vậy thì làm sao đến được Không Động hở con?”
Tuệ Giác vội đứng thẳng người lên, như thể trời trồng, chẳng khác nào qua cơn ác mộng, thoạt bừng tỉnh khai thông tâm trí khi người thầy đánh trúng nhược điểm.
Sư phụ của Tuệ Giác lúc này xuất chiêu, bèn chống trượng nhẩy lên một tảng đá cao nhất, từ chỗ thấp lên cao một cách dễ dàng, như chim, như én mùa Xuân...!
Tuệ Giác reo lên;
“Hay quá! hay quá sư phụ ‘phi thân dễ dàng’!”
Sư phụ cười:
“Con hãy bay nhẩy như thầy đi... ta chẳng còn sức lực nữa! Từ đây đến Không Động, ta không thể đi được nữa, phải tập nhẩy thôi! Con liệu đó nhen...!”
Nói xong, sư phụ tiếp tục thoăn thoắt nhẩy từ tảng đá này sang tảng đá kia không cần cây trượng nữa, chẳng khác nào những chú chim nho nhỏ đang chuyền cành.
Tuệ Giác bái phục sư phụ quá! Chẳng biết làm sao hơn chỉ đứng nhìn, và sau đó trèo qua từng tảng đá, rất là vất vả tốn nhiều công sức than thở rằng:
Con là một nam nhi đầy nhựa sống mà thua sư phụ gầy guộc tuổi cao sức yếu nhưng nội công lại thâm hậu như thế. Con thật là xấu hổ.”
Sư phụ bật cười:
Có gì đâu! Thầy chỉ quen thôi! Có lẽ con chưa nắm vững được kỹ thuật đề khí, phi thân... Nhẩy cũng phải biết ‘đạo lý’ và biết cách thức tích tụ đang điền khi dụng công cho đúng chỗ, nếu con chuyên trì luyện tập thì tương lai lo gì...”
Tuệ Giác, trợn mắt ngạc nhiên này cho đến ngạc nhiên khác:
“Nhẩy cũng có quy cách... sao sư phụ?”
“Đó là ‘cách nói’ còn thực hành là việc khác nữa...! Theo Thái Cực Âm Dương Ngũ Hành luận của Đông phương thì khí dương nhẹ nên bốc lên, khí âm nặng trệ xuống. Tưởng là dương khí, tình là âm khí. Đúng vậy, theo thuyết nhà Phật thượng phần sung mãn. Nghĩa là có đời sống tinh thần sung túc lúc nào cũng thanh cao thư thả không muộn phiền... với các trạng thái như: hỷ lạc, khinh an, thư thái, vui vẻ, rộng lượng, khoan dung, hỷ xả, từ bi... thì tâm sẽ được cao hơn đạt đến chỗ.... Trái lại, nếu hạ phần sung mãn với các trạng thái tâm nặng nề như: độc ác, gian tham, hung dữ, sân hận, tật đố , kiêu căng, ngạo mạn, tự đắc... thì dễ bị lạc vào cảnh giới tối tăm, trì trệ và đau khổ. Con có hiểu không?”
Tuệ Giác, thấm thía trong lòng.
“Cám ơn Sư phụ đã chỉ dạy.”
Rồi sau đó, cuộc hành trình lại tiếp tục, băng rừng vượt núi không kể thời gian.
Xế trưa hai thầy trò đã đến được “Không Động”. Sư phụ chỉ vào hai tảng đá to lớn úp lại với nhau như mái nhà và có một cái cốc nhỏ dựng bằng lá rừng sơ sài dưới tàng cây đại thụ và nói:
“Không Động đấy!”
Tuệ giác có vẻ thất vọng. Thầm nghĩ rằng nơi ấy phải là...! Thì ra là chẳng có gì tuyệt diệu cả, khác hẳn với trí tưởng tượng của ta. Tuy vậy, nhưng cũng là nơi mát mẻ và yên tĩnh đúng là dành cho kẻ tu hành. Khí đá và sương mù buổi sáng vật vờ y như cảnh tiên bồng không đâu sánh bằng những áng mây bàng bạc lơ lửng giữa đồi núi. Ôi tuyệt đẹp làm sao! Tuệ Giác cảm thấy thoát tục, tâm hồn nhẹ nhàng khoan khái như đã trút hết mọi mỏi mệt đường xa.  Nhưng chữ “Không Động” vẫn còn vấn vương... Thấy vậy, sư phụ cao hứng, liền ngâm bài thơ  của Tô Đông Pha: 
Lô Sơn yên tỏa Triết Giang triều
Vị đáo sanh bình hận bất tiêu
Đáo liễu hoàn lai vô biệt sự
Lô Sơn yên tỏa Triết Giang triều”.
Tạm dịch:
Mù tỏa non Lô sóng Triết Giang
Chưa đi đến đó hận muôn vàn
Đến rồi thì thấy không gì lạ
Mù tỏa non Lô sóng Triết Giang”
Nhưng Tuệ Giác có thấu hiểu hay không, là việc khác...!
Văn Học Phật Giáo

Họ & tên
 Địa chỉ
 Email
 Địa chỉ
Điện thoại:
Chủ đề
Nội dung:
(Phần chữ in đậm là bắt buộc.)
Nhập mã xác nhận:  
Tôi đồng ý gửi thông tin này đến ban quản trị website.

CÁC BÀI VIẾT KHÁC TRONG MỤC :Văn học Phật giáo › Tùy bút