Đang tải dữ liệu ...
Chào mừng quý vị đến với Diễn đàn Phật học Vườn Tâm          Chào mừng quý vị đến với Diễn đàn Phật học Vườn Tâm    
Vườn Lam › Người áo Lam
Cập nhật: 02/04/2012 
Cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám, Một nhà Phật học lớn
Ngày mồng 7 tháng 3 năm Nhâm Thìn là ngày húy kỵ bác Tâm Minh Lê Đình Thám, vị tiền bối hữu công Phật giáo, người sáng lập Gia đình Phật tử Việt Nam. Chúng ta hãy dành một phút lắng lòng đọc lại bài viết của tác giả Đào Nguyên nhân kỷ niệm 100 ngày sinh của bác (1897-1997).
Đọc để suy gẫm và để cám ơn những cơ duyên xây dựng nên một con người trọn đời vì đạo pháp và dân tộc và cũng để chúng ta, những người đi theo bước chân bác, kiên định niềm tin vào tương lai tươi sáng của một tổ chức vì tương lai của đạo pháp và dân tộc mà bác đã xây dựng nên.
Xin trân trọng giới thiệu bài viết này.
 
Cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám (1897 – 1969), một người con ưu tú của Phật giáo Việt Nam hiện đại, nhân kỷ niệm đúng 100 năm ngày sinh của ông (1897 – 1997), một số ghi nhận và đánh giá của chúng tôi dưới đây được xem như là sự bày tỏ về lòng kính mộ của hàng hậu sinh đối với một bậc tiền bối. Có thể ghi nhận những đóng góp lớn lao của Cư sĩ Tâm Minh cho Phật giáo và Phật giáo Việt Nam qua ba lãnh vực: hoạt động, giáo dục, nghiên cứu dịch thuật.
 
1. Hoạt động
Thật ít có một con người mang tính chất dung hợp, toàn diện như cư sĩ Tâm Minh: Theo Tây học mà vẫn tha thiết với cái học truyền thống của dân tộc, nhất là vào hoàn cảnh thời bấy giờ, hăng hái, năng nổ mà vẫn trầm tĩnh, sâu lắng, uyên bác, trí tuệ mà vẫn dung dị, hòa đồng… Chính vì thế mà ông đã đảm nhận và hoàn thành một cách xuất sắc, đầy sáng tạo những trọng trách đối với Đạo pháp thời ấy: Tham gia phong trào chấn hưng Phật giáo ở Miền Trung, giữ chức vụ Hội trưởng An Nam Phật học Hội giai đoạn đầu (1932), làm báo Viên Âm (1933), thành lập tổ chức Gia đình Phật Hóa Phổ tiền thân của Gia đình Phật tử (1944), phác họa, tiến hành dự án thành lập Đại tòng lâm Kim Sơn (1943 – 1944)… Sau này, tham gia kháng chiến chống Pháp, trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, thiếu thốn, ông cũng đã đề xướng và duy trì tổ chức “Phật giáo và dân chủ mới” (1947 – 1949) với quyết tâm gắn đạo với đời, Đạo pháp luôn có mặt với Dân tộc.
 
Dự án Đại Tòng Lâm Kim Sơn thật đáng kể, chứng tỏ tầm nhìn của cư sĩ Tâm Minh về tương lai của Đạo pháp. Tuy nó không gặp được thời cơ thuận lợi nên chưa thực hiện được trọn vẹn, nhưng dự án ấy vẫn mãi mãi là một tham khảo cần thiết cho những vị lãnh đạo Giáo hội vốn quan tâm đến việc xây dựng, quản lý, đào tạo tăng tài, kết hợp giáo dục với kinh tế.
 
2. Giáo dục
Sách Việt Nam Phật giáo sử luận 3 của tác giả Nguyễn Lang đã ghi nhận và đánh giá về vai trò giáo dục Phật giáo của cư sĩ Tâm Minh như sau: “Lê Đình Thám có lẽ là người cư sĩ đầu tiên ở thế kỷ 20 đã dự phần vào việc đào tạo tăng tài, Phật học của ông được các bậc tôn túc công nhận là uyên thâm, cho nên ông đã được mời vào giảng dạy trong các Phật học đường Trúc Lâm và Tường Vân. Ông luôn luôn mặc lễ phục (áo tràng) và đảnh lễ  Chư Tăng trước khi bước lên pháp tòa để giảng kinh cho họ…” (VNPGSL 3, NXB Lá Bối, Paris 1985, tr 88 -89).
Cũng tài liệu nơi sách này cho biết, cư sĩ Tâm Minh đã đến với Đạo Pháp từ việc tiếp xúc với bài kệ nổi tiếng của Lục tổ Huệ Năng “Bồ Đề Bổn Vô thọ”, qua sự giải thích thỏa đáng của Hòa thượng Giác Tiên (1880 – 1936). Sau đấy chính là Bổn sư của ông (SĐD trang 88- 89).
 
Gặp được bậc minh sư, lại được học Phật trực tiếp với Quốc sư Phước Huệ (1869 – 1945), một bậc danh tăng xuất chúng lúc bấy giờ, tư chất lại hết sức thông minh, đầy ắp đạo tâm và nhiệt tình, cư sĩ Tâm Minh quả thực xứng đáng góp phần vào sứ mạng đào tạo tăng tài thời ấy và đã thực hiện tốt chức năng cao quý đó.
Trong công việc giáo dục, đào tạo tăng tài, vấn đề hàng đầu và cũng cơ bản là chương trình, tài liệu giáo khoa. Vì thế, ngay từ năm 1934, Phật học đường Trúc Lâm đã đề xuất một chương trình Phật học, áp dụng cho việc giảng dạy Tăng Ni từ bậc thấp đến cao. Năm 1944, chương trình trên đã được thay đổi bằng một chương trình mới, với việc phân chia các lớp, thời gian học: Kinh, Luật, Luận được đem ra giảng dạy cho từng lớp…(tương đối hợp lý hơn, ổn thỏa hơn) (xem VNPGSL3, sđd tr 93-96).
 
Chắc chắn là cư sĩ Tâm Minh đã góp phần không nhỏ cho quá trình hình thành các chương trình Phật học kể trên.
Tất nhiên, chương trình Phật học ấy còn rất nhiều điểm hạn chế, nhưng từ trước đến giờ, nó vẫn được xem là tham khảo cần thiết cho công việc giảng dạy Tăng Ni nơi các Tự viện, Phật học đường, nhất là ở Miền Trung.
3. Nghiên cứu, dịch thuật
 
Ngay từ những số báo Viên Âm đầu tiên, cư sĩ Tâm Minh đã viết những bài ngắn mang tính chất diễn giảng giáo lý cho quần chúng Phật tử. Điều đáng kể là, tuy bận rộn với nhiều Phật sự, ông vẫn dành thì giờ để nghiên cứu, dịch thuật, như giới thiệu về Nhân Minh Học, dịch Luận Chỉ Quán, dịch kinh Thủ Lăng Nghiêm…
Kinh Thủ Lăng Nghiêm (ĐTK/ĐCTT, tập 19, No 1945, 10 quyển trang 105-155) là một trong số các bộ kinh nổi tiếng của Phật giáo Bắc truyền. Nhà bác học Lê Quý Đôn (1725 – 1784), nơi sách Kiến Văn Tiểu Lục nhận xét tổng quát về kinh Thủ Lăng Nghiêm như sau:
 
Kinh Lăng Nghiêm là tôn chỉ bí mật thứ nhất trong thiền gia, không những ý nghĩa sâu rộng, ngay đến văn pháp cũng cao siêu màu nhiệm, những lời thí dụ biện luận, phân tích rất tinh tế, tỉ mỉ, từ ngữ khí thế có thể đổ núi nghiêng sông. Trong sách nói: Ông chủ thuyết pháp là nhà đại hùng biện. Câu nói ấy thật là đúng. (Kiến Văn Tiểu Lục, Phạm Trọng Điểm dịch, NXB KHXH, H 1978, tr 369).
 
Hiện chúng ta có trên 5 bản Việt dịch bộ kinh ấy, bản dịch của cư sĩ Tâm Minh tuy là bản Việt dịch ra đời sớm, nhưng vẫn là bản dịch công phu hơn cả. Năm 1961, toàn bộ kinh thủ Lăng Nghiêm do ông dịch và chú giải từng đăng trên tạp chí Viên Âm đã được xuất bản tại Hà Nội, hẳn là một khích lệ, an ủi lớn đối với ông trong hơn 30 năm gắn bó với đạo pháp. Lời nói đầu in ở đầu bản dịch kinh Lăng Nghiêm được viết hết sức cô đọng, sâu sắc, chứng tỏ trình độ Phật học của cư sĩ Tâm Minh đã đến giai đoạn chín muồi, nếu ta so với một số bài viết nơi các số đầu của tạp chí Viên Âm hồi năm 1933, 1934. Xin giới thiệu một đoạn:
“Chư Phật ra đời chỉ nhằm một mục đích là dạy bảo, chỉ bày cho chúng sinh giác ngộ và thật chứng pháp giới tính Phật. Pháp giới tính là tính bản nhiên của tất cả sự vật, nghĩa là của tất cả các chuyển động và các hiện tượng trong vũ trụ.
 
Tính bản nhiên ấy là tính “trùng trùng, duyên khởi”, nghĩa là tính ảnh hưởng dây chuyền của một số sự vật đối với tất cả sự vật, của tất cả sự vật đối với sự vật… Do mỗi sự vật đều chịu ảnh hưởng của tất cả sự vật nên đều chuyển biến không ngừng. Do mỗi sự vật chuyển biến không ngừng. Song ảnh hưởng của các loại sự vật đối với một sự vật không giống nhau, cái thì trực tiếp, cái thì gián tiếp qua một hay nhiều lớp, do đó tác động cũng không giống nhau. Trong ảnh hưởng phức tạp của tất cả sự vật làm cho một sự vật xuất hiện và chuyển biến, đạo Phật đã rút ra một quy luật bản nhiên là luật nhân quả. Luật nhân quả là một quy luật rất sinh động, không phải luôn luôn đơn giản như trồng lúa thì được lúa. Lại chính việc trồng lúa thì được lúa cũng không đơn giản lắm, vì phải có đất, có nước phân, cần, giống phải kể đến thời tiết, kỹ thuật cấy cày,… thì mới chắc được lúa và có nhiều lúa. Vì thế nên nhân quả và định mệnh khác nhau rất nhiều…
 
Vật chất có nhân quả vật chất, tâm thức có nhân quả tâm thức, hai bên ảnh hưởng lẫn nhau, nhưng không nhất thiết giống nhau. Đối với đạo Phật, nhân quả tâm thức là chủ yếu, vì nó quy định sự tiến hóa hay thoái hóa trên con đường giải thoát” (kinh thủ Lăng Nghiêm, lời nói đầu, bản in 1992, tr: 21-22).
Ngoài ra, bài viết mang tính chất dẫn nhập về Nhân Minh Học, bản dịch Luận Kết Sanh Tương Tục, nhất là bản dịch Luận Chỉ Quán của Đại sư Tuệ Tư (515-577) Trung Hoa… là những nghiên cứu, dịch thuật có giá trị, những đóng góp quý giá vào kho tàng Phật học Việt Nam mà các thế hệ đi sau luôn trân trọng.
Cũng nên nhắc tới một chi tiết đáng chú ý nơi cuộc đời của cư sĩ Tâm Minh: Năm 1928, khi quy y Tam Bảo với Hòa thượng Giác Tiên, cư sĩ Tâm Minh đã phát nguyện và thực hiện việc ăn chay trường từ đó. Sự kiện ấy cộng với sự gắn bó và thực hiện tốt mọi chức năng xã hội và Đạo pháp qua suốt cuộc đời mình, kể cả vào những thời kỳ khó khăn, phức tạp nhất… đó là một hình ảnh đẹp, nếu không nói là đẹp nhất mà giới cư sĩ của Phật giáo Việt Nam ở thế kỷ 20 đã có được. ▣
Đào Nguyên (THeo: giadinhphattu.vn)

Họ & tên
 Địa chỉ
 Email
 Địa chỉ
Điện thoại:
Chủ đề
Nội dung:
(Phần chữ in đậm là bắt buộc.)
Nhập mã xác nhận:  
Tôi đồng ý gửi thông tin này đến ban quản trị website.

CÁC BÀI VIẾT KHÁC TRONG MỤC :Vườn Lam › Người áo Lam