Đang tải dữ liệu ...
Chào mừng quý vị đến với Diễn đàn Phật học Vườn Tâm          Chào mừng quý vị đến với Diễn đàn Phật học Vườn Tâm    
Khất Sĩ Phật Việt › Nghiên cứu
Cập nhật: 07/08/2013 
Giới Luật Khất Sĩ - Phần 1
Giới luật Khất Sĩ hay Luật pháp Khất Sĩ là những phần quy định về tư cách cá nhân, về đời sống, sự sinh hoạt, cách tổ chức… của các thành viên và Tăng đoàn Phật giáo Khất Sĩ. Giới là những điều cấm, điều răn cho cá nhân, Luật là những phép tắc luật lệ của tổ chức, Pháp là hệ thống, là cơ sở, là những quy định và thực tiễn, là tổng quát mọi điều về giới luật Phật giáo.

A. GIỚI THIỆU ĐÔI NÉT

Giới luật Khất Sĩ hay Luật pháp Khất Sĩ là những phần quy định về tư cách cá nhân, về đời sống, sự sinh hoạt, cách tổ chức… của các thành viên và Tăng đoàn Phật giáo Khất Sĩ. Giới là những điều cấm, điều răn cho cá nhân, Luật là những phép tắc luật lệ của tổ chức,Pháp là hệ thống, là cơ sở, là những quy định và thực tiễn, là tổng quát mọi điều về giới luật Phật giáo. Còn Khất Sĩ là tên riêng của hệ thống pháp luật này, lấy theo tên của dòng Đạo Phật Khất Sĩ do Tổ sư Minh Đăng Quang sáng lập tại Việt Nam vào cuối thập niên 1940. Qua hơn 60 năm hình thành và phát triển, Phật giáo Khất Sĩ đã thiết lập nên một hệ thống giới luật biệt truyền, được xây dựng trên nền tảng là Thích-ca Chánh pháp. Hệ thống đó đã giúp chư Tăng, Ni Khất Sĩ và Phật tử ổn định đời sống, thành tựu những tâm đức cao thượng và thăng hoa về trí tuệ. Với phương pháp liệt kê và nêu sơ lược những ý trọng tâm, bài viết này sẽ được trình bày như một bài đại cương về Giới luật Khất Sĩ, để làm cơ sở cho những bài nghiên cứu khác.

Giới luật Khất Sĩ do đức Tổ sư Minh Đăng Quang tổng hợp và triển khai. Sức sống mạnh mẽ của nó trong hơn 60 năm qua đã chứng tỏ nó là một nguồn mạch dồi dào, căng tràn nhựa sống, thích hợp với căn cơ và bẩm tánh của chúng sanh. Chính hệ thống Giới luật Khất Sĩ đã khẳng định Phật giáo Khất Sĩ là một nền Phật giáo độc lập, được kiến thiết vững chắc.

Giới luật Khất Sĩ đã được Tổ sư Minh Đăng Quang ban hành qua các quyển Chơn Lý. Đến năm 1972, các quyển này được ngài Thượng tọa Pháp sư Giác Nhiên, Tổng trị sự trưởng Giáo hội Tăng-già Khất Sĩ Việt Nam, gom thành quyển Luật Nghi Khất Sĩ và được Giáo hội ấn hành phổ biến. Quyển này có 10 chương, trong đó có 8 chương nói về giới luật là:

Chương 1:            Bài học Khất Sĩ ....................... Chơn lý 18

Chương 2:            Luật Khất Sĩ............................. Chơn lý 11

Chương 3:            Bài học Sa-di............................ Chơn lý 65

Chương 4:            Pháp học Sa-di I – Giới............ Chơn lý 67

Chương 7:            Giới bổn Tăng........................... Chơn lý 14

Chương 8:            Giới bổn Ni............................... Chơn lý 15

Chương 9:            Giới Phật tử.............................. Chơn lý 55

Chương 10:          114 điều Luật nghi Khất Sĩ

Còn 2 chương, chương 5 là Pháp học Sa-di II – Định (Chơn Lý 68) và chương 6 là Pháp học Sa-di III – Huệ (Chơn Lý 69). Hai chương này đã được đưa vào quyển Luật Nghi Khất Sĩ ngay từ đầu bởi vì chúng cũng có tính cách là những pháp học căn bản, cần gom chung một quyển cho các vị Khất Sĩ dễ mang theo sử dụng trong khi du phương hành đạo. Chương 114 điều Luật nghi Khất Sĩ có tính cách là cácthanh quy riêng của hệ phái, do Tổ sư Minh Đăng Quang đã ban hành thêm để Tăng Ni áp dụng.

Nhân đây nói về tên quyển Luật Nghi Khất Sĩ: tên này đã được sử dụng phổ biến, đã thành danh, không cần phải nói gì. Nhưng có điều là nội dung của quyển này lớn hơn tên của nó: một là có hai chương nói về định và huệ, hai là có một chương Giới Phật tử. Giới Phật tử như đã biết là bao hàm 3 nội dung Nhiếp luật nghi giới, Nhiếp thiện pháp giới và Nhiêu ích hữu tình giới. Vậy khi dùng tiêu đề Luật Nghi Khất Sĩ thì nên hiểu nó ở nghĩa rộng, rằng đây là luật nghi của tất cả các vị khất sĩ phàm Thánh, gồm hàng phàm Tăng và các Thánh vị Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán, Duyên Giác, Bồ-tát mà Phật giáo Khất Sĩ đã triển khai. Trong 7 đạo quả, ngoài 6 Thánh quả trên là quả Như Lai, bậc Vô thượng sĩ.

Giới luật Khất Sĩ là công truyền chứ không phải là bí truyền. Diện mạo ban đầu của Giới luật Khất Sĩ là các quyển Chơn Lý và được ấn tống phổ biến cho Tăng, Ni, Phật tử sử dụng. Đối với các Sa-di, Phật giáo Khất Sĩ từ lâu đã quy định các vị ấy phải học thuộc lòng Giới bổn rồi mới được thọ giới Tỳ-kheo. Tinh thần công truyền của Giới luật Khất Sĩ đã thể hiện sự khách quan và trong sáng của hệ thống giới luật này.

Giới luật Khất Sĩ được biên tập bằng tiếng Việt chứ không dùng tiếng Hán, tiếng Pali hay tiếng Phạn, tiếng Tạng, 4 ngôn ngữ cổ của Phật giáo thế giới. Khi biên tập bằng tiếng Việt, có những danh từ được dùng rất khéo như y Thượng, y Trung, y Hạ, Bình bát đất, áo Giới, nhà Tam Bảo (nhà thờ Phật, nhà thuyết Pháp, nhà Tăng ở)… Đây là một ưu điểm của Giới luật Khất Sĩ, thể hiện sự tích cực  tiến bộ. Sau này, khi được phát triển ra thế giới, thì Giới luật Khất Sĩ sẽ được dịch thành tiếng Anh, Pháp, hay các thứ tiếng khác thích hợp cho mọi người sử dụng.

Giới luật Khất Sĩ có phần ngắn gọn, những gì Tổ sư Minh Đăng Quang đã biên tập và ban hành chỉ có 8 chương, dài khoảng 200 trang sách khổ trung bình. Như Giới bổn Tăng và Giới bổn Ni đã nêu lên những giới điều rất cụ thể, nội dung đầy đủ mà mỗi Giới bổn chỉ dài hơn 20 trang sách; hay phần nghi thức cúng Ngọ rất gọn mà sinh động, các bài kệ rất sâu sắc. Khi xem 6 bộ quảng luật của Phật giáo thế giới, những bộ được biên tập từ cách đây hơn 2.300 năm, ta nhận thấy là chúng hơi cổ trong cách trình bày. Ngày nay, ta thấy các “tên giới” như người xưa biên tập thật ra là nội dung chính của các giới điều, còn “nội dung giới” như người xưa sắp xếp thật ra là những phần diễn giải. Phần diễn giải nên sắp riêng cho người học luật dễ theo dõi.

Nét sáng tạo của Giới luật Khất Sĩ có thể thấy qua sự cách tân bộ tam y khất sĩ và bộ tam y nữ khất sĩ: thấy chúng vẫn như xưa mà xem ra thật là áo giải thoát hiện đại. Hay mô hình tịnh xá bát giác với cổ lầu tứ giác bên trên có hai tầng mái xòe ra các hướng trông như một tòa sen lớn đang nở giữa biển đời. Hay bảo tháp thờ Phật được đặt ngay giữa chánh điện, để mọi người quây quần xung quanh, cảnh như thời đức Phật còn tại thế. Hay bình bát đất có đáy bằng nên không cần thêm một phụ tùng là cái kiềng đỡ bát. Giới luật là đời sống, mà đời sống thì cứ đi tới. Qua nhiều quốc độ và nhiều thời đại khác nhau, Phật giáo đã phải thích ứng bằng những sáng tạo cần thiết. Về khía cạnh này, Phật giáo Khất Sĩ đã rất khéo léo, không quá trớn đến mức mất luôn y bát chơn truyền của chư Phật. Giới luật Khất Sĩ được trình bày rõ ràng. Tám chương do Tổ sư Minh Đăng Quang đã ban hành chính là phần căn bản của Giới luật Khất Sĩ (tập 1). Ngoài phần này dĩ nhiên còn phải thêm phần chú giải (tập 2) và thêm phần bổ sung (tập 3) là cập nhật những quy định của Phật giáo Khất Sĩ qua các thời đại. Ba tập này thì cũng vừa phải cho một bộ quảng luật, không thiếu sót mà cũng không rườm rà phiền phức. Sự rõ ràng của Giới luật Khất Sĩ còn được thể hiện trong khâu dịch thuật, như phần dẫn nhập và phần Kệ giới của 7 đức Phật trong các Giới bổn đã được chuyển dịch thành văn xuôi dễ hiểu, các đoạn bị trùng ý trong Môn oai nghi của Sa-di và Sa-di Ni được lược bớt, các câu chú âm Hán-Phạn được thay bằng một chữ “Như” đầu mỗi bài kệ chú nguyện, những từ ngữ và ý tứ cho rằng các giới pháp của hàng Phật tử xuất gia là nhỏ mọn, phi pháp, tà kiến đều được lược bỏ trong Giới Phật tử. Kinh luật khi qua tay người có huệ nhãn thì trở nên rõ nghĩa, còn không thì ngược lại. Nói chung, Tổ sư Minh Đăng Quang đã biên tập Giới luật Khất Sĩ rất hợp lý.

Đoạn cuối của Giới bổn Tăng và Giới bổn Ni Khất Sĩ có nội dung như thế này:

Giới bổn này tất cả khất sĩ đều dùng được hết.

Luật Tăng đồ nhà Phật này của phái Đàm-Vô-Đức bộ do đại sư Đàm-Đế dịch năm 254 Dương lịch.

Qua đoạn này, ta biết được Giới bổn Tăng Khất Sĩ và Giới bổn Ni Khất Sĩ được căn cứ vào một hệ thống Tứ phần Luật có trước hệ thống Tứ phần Luật do ngài Phật-đà-da-xá và Trúc Phật Niệm dịch ra Hán ngữ khoảng 200 năm.

Trong sách Lịch Sử Phật Giáo Trung Quốc của hòa thượng Thanh Kiểm, đoạn khái thuyết về Phật giáo thời nhà Ngụy (220-265, nhà Tiền Ngụy, do Tào Tháo thành lập vào đầu thời Tam Quốc) đã có nhắc đến đại sư Đàm-đế như sau:

… Sau hai năm, (254 TL) lại có ngài Đàm Đế (Dharmatrata) tới, và phiên dịch bộ “Đàm Vô Đức Yết Ma”, cách tác pháp thụ giới.

… Các vị Phạm Tăng tới nước Ngụy phiên dịch kinh điển, đặc biệt có hai ngài Đàm Ma Ca La và Đàm Đế đã dịch về giới luật, là những vị truyền bá giới luật đầu tiên ở Trung Quốc, rất có ảnh hưởng lớn đến hậu thế.

Ngài Đàm-ma-ca-la đến Trung Quốc năm 250 (năm Gia Bình thứ 2) và đã dịch Tăng-kỳ Giới Bổn (218 giới), dĩ nhiên Giới bổn này không phải của phái Đàm-vô-đức. Ngài Đàm-đế dịch một quyển Yết-ma, quyển này tương truyền đương thời đã dùng để tác pháp cho người Trung Quốc xuất gia, thọ giới, v.v… Khi dùng Đàm-vô-đức Yết-ma để tác pháp thọ giới, thì sách này phải có Giới bổn, vì đâu thể dùng Tăng-kỳ Giới Bổn là của phái khác. Và Tổ sư Minh Đăng Quang đã cho biết các Giới bổn do ngài biên tập và phổ biến cho Tăng, Ni khất sĩ sử dụng là do đại sư Đàm-đế phiên dịch ra Hán ngữ vào năm 254. Chúng ta hãy ghi nhận điều đó.

Còn 4 chữ “tất cả khất sĩ” là chỉ hết các hạng khất sĩ Thanh Văn, khất sĩ Duyên Giác và khất sĩ Bồ-tát, mỗi hạng khất sĩ đều có 10 địa (xem Tam thập địa trong Pháp học Sa-di III – Huệ). Chẳng phải vô cớ mà giới pháp của chư Tỳ-kheo được đức Phật gọi là Giới bổn, Giới gốc. Ngày xưa, đức Lục Tổ Huệ Năng đã lên Tổ vị rồi, thọ nhận y bát và tâm ấn của chư Phật đã 16 năm rồi, mà vẫn xuất gia và thọ giới Tỳ-kheo trước khi ra hoằng pháp đốn giáo thượng thừa. Hay như đức Tổ sư Minh Đăng Quang cũng đã đắc đạo ở bờ biển Mũi Nai rồi, sau về làng Phú Mỹ vẫn lần lượt cầu thọ giới pháp và nghiêm trì giới Sa-di, Tỳ-kheo rồi mới lập Đạo Phật Khất Sĩ. Bậc đắc đạo dĩ nhiên đã thành tựu giới thể vô nhiễm, các Ngài vẫn cầu thọ giới pháp của chư Phật để làm gì? Thế nên 4 chữ “tất cả khất sĩ” không phải đơn giản, đây là Tổ sư Minh Đăng Quang đã khéo phá bỏ sự chống báng của 3 thừa, dung hòa vào một nguồn Thích-ca Chánh pháp như chơn lý, khẳng định “thừa” là trình độ tâm trí chứ không phải là giai cấp. Phật pháp thuần một đạo vị giải thoát, tuy hàng Phật tử có nhiều trình độ khác nhau nhưng không vì thế mà xung đột như kẻ thế tục.

Tóm lại, Giới luật Khất Sĩ đã căn cứ vào Luật Tứ Phần do đại sư Đàm-đế dịch như các phần Giới bổn,những câu chú nguyện mẫu trong Kinh Hoa NghiêmGiới Phật tử trong Kinh Phạm VõngKệ pháp của 7 đức Phật trong Kinh A-hàm, những phần do đại sư Liên Trì tổng hợp (Môn oai nghi Sa-di và 10 giới nghĩa), những phần khác do học giả Đoàn Trung Còn phiên dịch ra tiếng Việt, Tổ sư Minh Đăng Quang đã sử dụng nhiều nguồn để biên tập nên Giới luật Khất Sĩ như vậy. Trong thời gian tu hành và hoằng pháp chỉ khoảng 10 năm, Tổ sư Minh Đăng Quang làm sao có thể làm được nhiều việc như thế? Thế mới hay là cái biết của chư Tổ sư đâu phải như người thường, các Ngài chẳng cần học từng quyển sách, lục tìm từng tài liệu! Diệu dụng của Bát-nhã Ba-la-mật thật bất khả tư nghì! Công đức khai sơn lập đạo của Tổ sư Minh Đăng Quang thật bất khả tư nghì! Và Giới luật Khất Sĩ cũng thật bất khả tư nghì!

B. SƠ LƯỢC NỘI DUNG

1. Giới pháp cư sĩ: gồm 5 giới và 8 giới, giành cho những người đã quy y Tam Bảo, sống cuộc sống gia đình, có những trách nhiệm thế tục và làm ngoại hộ cho Phật giáo.

a. 5 giới cư sĩ: là căn bản của mọi luật nghi của Phật giáo, cũng là các bậc thang tất yếu để đi lên cõi người, cõi trời trong hiện tại và trong tương lai. 5 giới cư sĩ của Phật giáo Khất Sĩ tương đương 10 thiện nghiệp:

   1. Cấm sát sanh

   2. Cấm trộm cắp

   3. Cấm tà hạnh

   4. Cấm nói dối, khoe khoang, đâm thọc, rủa chửi.

   5. Cấm uống rượu, tham lam, sân giận, si mê.

b. 8 giới cư sĩ: giành cho những người tập xuất gia một ngày đêm, tu Bát quan trai, nên 8 giới này chỉ thọ một ngày, ngày nào muốn tu lại cầu thọ 8 giới.

   1. Cấm sát sanh

   2. Cấm trộm cắp

   3. Cấm dâm dục

   4. Cấm nói dối, khoe khoang, đâm thọc, rủa chửi.

   5. Cấm uống rượu, tham lam, sân giận, si mê.

   6. Cấm trang điểm phấn son, áo quần hàng lụa tươi tốt, và nghe xem hát múa đờn kèn, yến tiệc vui đông.

   7. Cấm ngồi ghế cao, nằm giường rộng, chiếu lớn xinh đẹp.

   8. Cấm ăn sái giờ từ quá ngọ đến ngọ mai (ăn chay).

2. Giới pháp Sa-di và Sa-di Ni: gồm 10 giới – Tứ y pháp, mặc bộ tam y, dùng bình bát đất, làm con trò của khất sĩ, tập hạnh khất sĩ để trở thành bậc khất sĩ chân chính sau này. Giới pháp Sa-di và Sa-di Ni có10 giới:

   1. Cấm sát sanh

   2. Cấm trộm cắp

   3. Cấm dâm dục

   4. Cấm nói dối, khoe khoang, đâm thọc, rủa chửi.

   5. Cấm uống rượu, tham lam, sân giận, si mê.

   6. Cấm trang điểm phấn son, áo quần hàng lụa tươi tốt.

   7. Cấm nghe xem hát múa đờn kèn, yến tiệc vui đông.

   8. Cấm ngồi ghế cao, nằm giường rộng, chiếu lớn xinh đẹp.

   9. Cấm ăn sái giờ từ quá ngọ đến ngọ mai (ăn chay).

   10. Cấm rớ đến tiền bạc vàng, của quý, đồ trang sức.

Và Tứ y pháp:

   1. Nhà sư khất thực phải lượm những vải bỏ mà đâu lại thành áo, nhưng có ai cúng vải, đồ cũ thì được nhận.

   2. Nhà sư khất thực chỉ ăn đồ xin mà thôi, nhưng ngày hội, thuyết pháp, đọc Giới bổn, được ăn tại chùa.

   3. Nhà sư khất thực phải nghỉ dưới cội cây, nhưng có ai cúng lều, am nhỏ bằng lá một cửa thì được ở.

   4. Nhà sư khất thực chỉ dùng phân uế của bò mà làm thuốc trong khi đau, nhưng có ai cúng thuốc, dầu, đường thì được dùng.

3. Chúng Thức-xoa-ma-na:

Thức-xoa-ma-na là một chúng đệ tử Phật. Tình hình các chúng đệ tử Phật được thành lập đại khái như sau: Đầu tiên, những người nam theo Phật xuất gia đều liền được cho làm Tỳ-kheo, số lượng lên đến hàng ngàn người. Sau vài năm thành đạo, đức Phật về thăm cố quốc và đã dẫn con trai theo cho đi tu. Khi ấy La-hầu-la chỉ là một thiếu nhi 9 tuổi, nên Phật bảo ngài Xá-lợi-phất thâu nhận chú làm vị Sa-di đầu tiên trong Phật giáo. Sau khi vua cha của đức Phật mất, bà di mẫu Ma-ha-ba-xà-ba-đề cùng nhóm 500 người nữ dòng họ Thích-ca đã đến gặp Phật năn nỉ xin được xuất gia. Đức Phật đã đặt ra 8 điều kiện để thâu nhận họ, trở thành chúng Tỳ-kheo-ni đệ tử Phật. Theo chân các Tỳ-kheo-ni này, sau đó đã có nhiều nữ nhân xuất gia làm Tỳ-kheo-ni trong giáo pháp của Phật. Kế tiếp, ngài Mục-kiền-liên độ cho 17 chú thiếu niên xuất gia. 17 chú này lớn hơn La-hầu-la và đã được đức Phật cho làm Tỳ-kheo. Các chú ấy không chịu đựng được đời sống Tứ y pháp của Tăng đoàn, khi đêm hay kêu khóc vì đói, nên đức Phật đã quy định người nam phải từ 20 tuổi trở lên mới được làm Tỳ-kheo, dưới tuổi đó phải làm Sa-di. Đến đây, chúng Thức-xoa-ma-na xuất hiện.

Thức-xoa-ma-na (Siksamana) có nghĩa là Học pháp nữ, Chánh học nữ. Duyên khởi của pháp này là thuở Phật còn tại thế, đã có một cô gái đi xuất gia với các sư cô rồi được thọ giới Tỳ-kheo-ni mà chính cô và mọi người đều không biết là cô đang có thai. Khoảng 3, 4 tháng sau, bào thai trong bụng cô lớn lên, làm cho người đời dị nghị về phẩm hạnh của chư Ni đệ tử Phật. Đức Phật đã nhờ bà Visakha khám nghiệm và minh oan cho cô trước đại chúng. Sau đó, đức Phật đã quy định là không nên cho người nữ vừa xuất gia liền được thọ giới Tỳ-kheo-ni, mà phải có một giai đoạn học pháp nhất định cho họ.

Điều luật này đã được áp dụng chung cho mọi người nữ mới xuất gia thời đó: các thiếu nữ đã từng có chồng, các thanh nữ 18 tuổi trở lên và mọi phụ nữ đều phải trải qua giai đoạn học pháp trước khi thọ giới Tỳ-kheo-ni. Với tục lệ tảo hôn cổ truyền của người Ấn, vào thời đức Phật đã có nhiều cô bé mới 10 tuổi đã có chồng, hình thành một hạng người nữ đặc biệt trong xã hội. Các thiếu nữ đã từng có chồng và hai hạng người nữ kia là ba hạng nữ nhân đã được Tăng đoàn ghi nhận là có thể làm Tỳ-kheo-ni, nhưng vì sinh lý của người nữ mà họ phải cần thêm thời gian, xem như phước duyên của họ còn khuyết.

Như vậy, ban đầu Thức-xoa-ma-na chính là quãng thời gian cần thiết để xác định duyên nghiệp của một người nữ mới xuất gia, nhằm xem người đó đã có thai hay không, trước khi cho thọ giới Tỳ-kheo-ni. Giai đoạn cần thiết này là cho những người nữ đi xuất gia mà không qua giai đoạn làm Sa-di-ni. Như nay trong Phật giáo, các người nữ đều phải xuất gia khoảng một năm mới được thọ giới Sa-di-ni, rồi thêm thời gian làm Sa-di-ni nữa, thì việc các cô ấy có thai hay không đã xác định được.

Pháp kính trọng thứ tư của các nữ khất sĩ có nội dung như sau:“4. Ni cô tập sự hai năm, nếu muốn vào hàng xuất gia thiệt thọ phải có giáo hội chư Tăng chứng nhận.”. Ở đây, “hàng xuất gia thiệt thọ” chính là hàng Tỳ-kheo-ni, hàng nữ khất sĩ, hàng Ni cô; còn “Ni cô tập sự” là chỉ những người đang tập làm Tỳ-kheo-ni. Ni cô tập sự là Sa-di-ni hay là Thức-xoa-ma-na? Nghi vấn này cũng nên được tìm hiểu.

Giới pháp Thức-xoa-ma-na không được Tổ sư Minh Đăng Quang đề cập đến trong bộ Chơn Lý. Và trong truyền thống của Phật giáo Khất Sĩ, giai đoạn Thức-xoa-ma-na của chư Ni chỉ có sự chứng minh chứ không có sự trao truyền, bởi vì không có giới Thức-xoa-ma-na nhất định để truyền. Khi đó, căn bản là các Ni cô tập sự được phép tập giữ Giới bổn Ni chứ không có gì khác, hoặc là được học tập thêm những oai nghi tế hạnh và những bài vở mà tùy mỗi giáo đoàn quy định, mục đích để huân tu thêm phước đức trí tuệ, chuẩn bị tư lương cho họ tiến lên phẩm vị Tỳ-kheo-ni. Điều này cho thấy Thức-xoa-ma-na quả là Học pháp nữ, họ được định vị là một chúng đệ tử Phật, với năng lực hơn các Sa-di-ni mà chưa đủ phước đức để làm Tỳ-kheo-ni. Trong Giới Luật Học Cương Yếu, hòa thượng Thánh Nghiêm cũng đã khẳng định là các Thức-xoa-ma-na chỉ có sự biệt giáo chứ không có giới thể để đắc. Ngài cũng đã trích dẫn sách Nghiệp Sớ như sau: “Học pháp nữ này không có giới luật, chỉ thọ biệt giáo thứ bậc hơn Sa-di-ni.” (tr. 283a). Hai từ “biệt giáo” dùng ở đây rất chính xác.

Thời đức Phật tại thế, chúng Thức-xoa-ma-na đã được hình thành như vậy. Về sau, các Tăng đoàn ở Ấn Độ đã quy định mọi nam nhân mới xuất gia đều phải trải qua giai đoạn làm Sa-di. Dĩ nhiên quy định này của Tăng đoàn là ứng với hạnh nghiệp của chúng sanh. Xét những vị nam tử lớn tuổi khi đi xuất gia vẫn phải làm Sa-di, họ có năng lực hơn các Sa-di mà chưa đủ phước đức để làm Tỳ-kheo, do vậy họ đã hình thành nên một chúng mà Luật tạng gọi là Danh tự Sa-di. Với chúng này, dĩ nhiên Tăng đoàn đã có ghi nhận những năng lực của họ và cũng có tạo những điều kiện thích hợp cho họ (ví dụ khi cần thì giáo hội cũng cho các Sa-di lớn tuổi đi trụ trì), nhưng không vì thế mà hình thành nên một giới pháp riêng cho chúng Danh tự Sa-di. Điều này được trình bày ở đây là để liên hệ đến trường hợp các Thức-xoa-ma-na. Và nếu chúng Danh tự Sa-di được hình thành trong thời đức Phật, thì có phải Phật giáo đã có 8 chúng Phật tử hay không?

Chư Ni cô đệ tử Phật là những vị được sinh ra và lớn lên với những biệt nghiệp của nữ giới. Để giúp cho các vị ấy được nghiệp duyên thuyên giảm, phước đức tăng trưởng, đủ năng lực đảm đương thọ mạng Phật pháp, thừa Như Lai sự, tác Như Lai sứ, các bậc thầy đã dày công rèn luyện cho các cô như vậy. Ngày xưa, đức Phật đã chế pháp Thức-xoa-ma-na cho các người nữ xuất gia mà không cần phải qua giai đoạn làm Sa-di-ni, pháp này không có giới thể. Đây là một sự thật tế nhị và có đạo lý chân chính, chúng ta hãy ghi nhận như vậy.

4. Giới pháp Tỳ-kheo-ni: gồm Tứ y pháp, Bát kính pháp và 348 giới Tỳ-kheo-ni. Chư Ni khất sĩ mặc bộ tam y, dùng bình bát đất, hành hạnh khất sĩ để trở thành bậc Vô thượng sĩ trong một ngày mai.

a. Tứ y pháp: là Tứ Thánh chủng, là bốn hạt giống Thánh hạnh, là bốn pháp trung đạo về đời sống thực tế ăn mặc ở bệnh của con người.

   1. Nhà sư khất thực phải lượm những vải bỏ mà đâu lại thành áo, nhưng có ai cúng vải, đồ cũ thì được nhận.

   2. Nhà sư khất thực chỉ ăn đồ xin mà thôi, nhưng ngày hội, thuyết pháp, đọc Giới bổn, được ăn tại chùa.

   3. Nhà sư khất thực phải nghỉ dưới cội cây, nhưng có ai cúng lều, am nhỏ bằng lá một cửa thì được ở.

   4. Nhà sư khất thực chỉ dùng phân uế của bò mà làm thuốc trong khi đau, nhưng có ai cúng thuốc, dầu, đường thì được dùng.

b. Bát kính pháp:

Bát kính pháp là 8 điều kiện mà nữ giới cung kính thọ lãnh từ Phật Thích-ca để được phép xuất gia trong giáo pháp của Ngài. Bát kính pháp là 8 pháp kính trọng, là 8 quy định cụ thể về sự tôn kính Tăng bảo luôn luôn của Ni giới. Tinh thần chung của Bát kính pháp là mọi pháp sự bên Ni giới đều phải có sự chứng minh của chư tôn đức Tăng. Tinh thần này có hai ý nghĩa: một là nêu cao đức khiêm tốn vô ngã của các nữ khất sĩ đệ tử Phật và hai là đức Phật đã phó chúc cho Tăng đoàn phải thường quan tâm giúp đỡ cho Ni giới như những người anh lớn đối với các em trong đại gia đình Phật giáo. Trong 7 chúng đệ tử Phật, chư Tỳ-kheo Tăng là các trưởng tử và thứ đến là chư Tỳ-kheo-ni, còn các chúng kia là hàng học trò của 2 chúng này. Bát kính pháp có nội dung như sau:

   1. Ni cô bao giờ cũng phải lễ bái chư Tăng, dầu cho lớn tuổi thế mấy cũng vậy.

   2. Ni cô không được phép trách mắng, rầy rà, nói hành chư Tăng.

   3. Ni cô không được phép xen vào việc ưng oan của chư Tăng.

   4. Ni cô tập sự hai năm, nếu muốn vào hàng xuất gia thiệt thọ phải có giáo hội chư Tăng chứng nhận.

   5. Ni cô nếu phạm giới phải sám hối giữa hai giáo hội nữ và nam.

   6. Ni cô phải nhờ giáo hội chư Tăng chứng minh đọc Giới bổn mỗi kỳ nửa tháng.

   7. Ni cô không được tựu hội nghỉ mùa mưa ở một xứ không có chư Tăng.

   8. Ni cô phải nhờ chư Tăng sắp đặt chỗ nơi hành đạo khi dứt mùa mưa.

Đối tượng của 8 pháp này là các Ni cô, là các nữ khất sĩ. Tổ sư dùng từ “Giáo hội nữ” ta có thể hiểu đó là Ni giới, Ni chúng, Ni đoàn, Ni bộ, Ni lưu; còn từ “Giáo hội nam” ta có thể hiểu đó là Tăng giới, Tăng chúng, Tăng đoàn, Tăng bộ.

c. 348 giới Tỳ-kheo-ni:

Chia làm 6 nhóm giới và nhóm 7 pháp diệt sự tranh cãi. 6 nhóm giới của Tỳ-kheo-ni xếp theo thứ tự từ nặng đến nhẹ như sau:

   1. 8 đại giới

   2. 17 giới tổn hại Tăng tàn

   3. 30 giới phá sự thanh bần

   4. 178 giới hành phạt

   5. 8 giới đặc biệt

   6. 100 giới nhỏ phải học

7 pháp diệt sự tranh cãi:

Khi có việc xảy ra xung đột, bất bình thì xử cho êm đi.

   1. Dùng cách tự thuận

   2. Hoặc nói quyết rằng quên

   3. Hoặc mình không biết, không cố ý

   4. Hoặc xin lỗi thành thật mình đã lỡ phạm

   5. Hoặc chuyển lên giáo hội xem xét cho

   6. Hoặc nhờ thầy quảng đại quyết định cho

   7. Hoặc cùng nhau niệm Phật bỏ qua, khỏa lấp như cỏ mới mọc.

Giới bổn Ni Khất Sĩ có 6 nhóm giới với 6 mức định tội căn bản như sau:

   1. 8 đại giới – trục xuất

   2. 17 giới tổn hại Tăng tàn – giáng cấp

   3. 30 giới phá sự thanh bần – cấm phòng 6 bữa

   4. 178 giới hành phạt – quỳ hương

   5. 8 giới đặc biệt – xưng tội xả đọ

   6. 100 giới nhỏ phải học – sám hối

5. Giới pháp Tỳ-kheo: gồm Tứ y pháp và 250 giới Tỳ-kheo. Chư Tăng khất sĩ mặc bộ tam y, dùng bình bát đất, hành hạnh khất sĩ để trở thành bậc Vô thượng sĩ trong một ngày mai.

a. Tứ y pháp:

Là Tứ Thánh chủng, là bốn hạt giống Thánh hạnh, là bốn pháp trung đạo về đời sống thực tế ăn mặc ở bệnh của con người.

   1. Nhà sư khất thực phải lượm những vải bỏ mà đâu lại thành áo, nhưng có ai cúng vải, đồ cũ thì được nhận.

   2. Nhà sư khất thực chỉ ăn đồ xin mà thôi, nhưng ngày hội, thuyết pháp, đọc Giới bổn, được ăn tại chùa.

   3. Nhà sư khất thực phải nghỉ dưới cội cây, nhưng có ai cúng lều, am nhỏ bằng lá một cửa thì được ở.

   4. Nhà sư khất thực chỉ dùng phân uế của bò mà làm thuốc trong khi đau, nhưng có ai cúng thuốc, dầu, đường thì được dùng.

b. 250 giới Tỳ-kheo:

Chia làm 7 nhóm giới và nhóm 7 pháp diệt sự tranh cãi. 7 nhóm giới của Tỳ-kheo xếp theo thứ tự từ nặng đến nhẹ như sau:

   1. 4 đại giới

   2. 13 giới tổn hại Tăng tàn

   3. 2 giới không định

   4. 30 giới phá sự thanh bần

   5. 90 giới hành phạt

   6. 4 giới đặc biệt

   7. 100 giới nhỏ phải học

7 pháp diệt sự tranh cãi:

Khi có việc xảy ra xung đột, bất bình thì xử cho êm đi.

   1. Dùng cách tự thuận

   2. Hoặc nói quyết rằng quên

   3. Hoặc mình không biết, không cố ý

   4. Hoặc xin lỗi thành thật mình đã lỡ phạm

   5. Hoặc chuyển lên giáo hội xem xét cho

   6. Hoặc nhờ thầy quảng đại quyết định cho

   7. Hoặc cùng nhau niệm Phật bỏ qua, khỏa lấp như cỏ mới mọc.

Mỗi điều của 7 pháp này đều rõ nghĩa, có lý có tình, chắc chắn là có thể hòa giải ổn thỏa những đấu tranh trong Tăng chúng. Nếu Thất diệt tránh pháp được dịch như sau: Thất diệt tránh pháp:

   1. Nên dùng phép hiện tiền thì dùng phép hiện tiền.

   2. Nên dùng phép nhớ lại thì dùng phép nhớ lại.

   3. Nên dùng phép bất si thì dùng phép bất si.

   4. Nên dùng tự ngôn trị thì dùng tự ngôn trị.

   5. Nên dùng cách tìm tướng tội thì dùng cách tìm tướng tội.

   6. Nên dùng cách nhiều người tìm tướng tội thì dùng cách nhiều người tìm tướng tội.

   7. Nên như cỏ che đất thì dùng cách như cỏ che đất.

Thì các thuật ngữ “phép hiện tiền”, “phép bất si”, “tự ngôn trị”, “cách như cỏ che đất” cần phải giải thích thêm mới hiểu mà biết cách ứng dụng, như thế là không tiện. Trong Luật tạng, các từ được sử dụng như “tụ”, “thiên”, “chương”, “kiền-độ” đều có nghĩa chung là “phần”. Nếu đem các từ này dùng như danh từ riêng thì sẽ bất tiện. Như khi nói “5 thiên 7 tụ” thì ta phải giải thích thêm rằng “thiên” chỉ cái gì và “tụ” chỉ cái gì, thật là phiền. Chính những trình bày phiền phức đã làm cho Luật tạng trở nên rối, trở nên đáng e ngại, ít được phổ biến và ứng dụng. Nếu như cần phải chú giải thì nên gom các chú giải thành một phần riêng, cho thích hợp, tiện dụng.

Giới bổn Tăng Khất Sĩ có 7 nhóm giới với 6 mức định tội căn bản như sau:

   1. 4 đại giới – trục xuất

   2. 13 giới tổn hại Tăng tàn – giáng cấp

   3. 2 giới không định

   4. 30 giới phá sự thanh bần – cấm phòng 6 bữa

   5. 90 giới hành phạt – quỳ hương

   6. 4 giới đặc biệt – xưng tội xả đọa

   7. 100 giới nhỏ phải học – sám hối

Như vậy là Giới bổn Tăng Khất Sĩ có 6 thiên 7 tụ, nếu theo cách nói cũ. Giới bổn này đã có thêm hình phạt giáng cấp. Trong 2 bộ Giới bổn Khất Sĩ, cách sử dụng tên chung (danh) đi kèm với loại tội trạng (chủng) như ở trên thật là gọn, dễ nhớ, dễ sử dụng.

                                                                                                (Còn tiếp)

800x600

GIỚI LUẬT KHẤT SĨ

KS. Minh Bình

A. GIỚI THIỆU ĐÔI NÉT

Giới luật Khất Sĩ hay Luật pháp Khất Sĩ là những phần quy định về tư cách cá nhân, về đời sống, sự sinh hoạt, cách tổ chức… của các thành viên và Tăng đoàn Phật giáo Khất Sĩ. Giới là những điều cấm, điều răn cho cá nhân, Luật là những phép tắc luật lệ của tổ chức, Pháp là hệ thống, là cơ sở, là những quy định và thực tiễn, là tổng quát mọi điều về giới luật Phật giáo. Còn Khất Sĩ là tên riêng của hệ thống pháp luật này, lấy theo tên của dòng Đạo Phật Khất Sĩ do Tổ sư Minh Đăng Quang sáng lập tại Việt Nam vào cuối thập niên 1940. Qua hơn 60 năm hình thành và phát triển, Phật giáo Khất Sĩ đã thiết lập nên một hệ thống giới luật biệt truyền, được xây dựng trên nền tảng là Thích-ca Chánh pháp. Hệ thống đó đã giúp chư Tăng, Ni Khất Sĩ và Phật tử ổn định đời sống, thành tựu những tâm đức cao thượng và thăng hoa về trí tuệ. Với phương pháp liệt kê và nêu sơ lược những ý trọng tâm, bài viết này sẽ được trình bày như một bài đại cương về Giới luật Khất Sĩ, để làm cơ sở cho những bài nghiên cứu khác.

Giới luật Khất Sĩ do đức Tổ sư Minh Đăng Quang tổng hợp và triển khai. Sức sống mạnh mẽ của nó trong hơn 60 năm qua đã chứng tỏ nó là một nguồn mạch dồi dào, căng tràn nhựa sống, thích hợp với căn cơ và bẩm tánh của chúng sanh. Chính hệ thống Giới luật Khất Sĩ đã khẳng định Phật giáo Khất Sĩ là một nền Phật giáo độc lập, được kiến thiết vững chắc.

Giới luật Khất Sĩ đã được Tổ sư Minh Đăng Quang ban hành qua các quyển Chơn Lý. Đến năm 1972, các quyển này được ngài Thượng tọa Pháp sư Giác Nhiên, Tổng trị sự trưởng Giáo hội Tăng-già Khất Sĩ Việt Nam, gom thành quyển Luật Nghi Khất Sĩ và được Giáo hội ấn hành phổ biến. Quyển này có 10 chương, trong đó có 8 chương nói về giới luật là:

Chương 1:      Bài học Khất Sĩ .................................... Chơn lý 18

Chương 2:      Luật Khất Sĩ......................................... Chơn lý 11

Chương 3:      Bài học Sa-di........................................ Chơn lý 65

Chương 4:      Pháp học Sa-di I – Giới........................ Chơn lý 67

Chương 7:      Giới bổn Tăng....................................... Chơn lý 14

Chương 8:      Giới bổn Ni........................................... Chơn lý 15

Chương 9:      Giới Phật tử.......................................... Chơn lý 55

Chương 10:    114 điều Luật nghi Khất Sĩ

Còn 2 chương, chương 5 là Pháp học Sa-di II – Định (Chơn Lý 68) và chương 6 là Pháp học Sa-di III – Huệ (Chơn Lý 69). Hai chương này đã được đưa vào quyển Luật Nghi Khất Sĩ ngay từ đầu bởi vì chúng cũng có tính cách là những pháp học căn bản, cần gom chung một quyển cho các vị Khất Sĩ dễ mang theo sử dụng trong khi du phương hành đạo. Chương 114 điều Luật nghi Khất Sĩ có tính cách là cácthanh quy riêng của hệ phái, do Tổ sư Minh Đăng Quang đã ban hành thêm để Tăng Ni áp dụng.

Nhân đây nói về tên quyển Luật Nghi Khất Sĩ: tên này đã được sử dụng phổ biến, đã thành danh, không cần phải nói gì. Nhưng có điều là nội dung của quyển này lớn hơn tên của nó: một là có hai chương nói về định và huệ, hai là có một chương Giới Phật tử. Giới Phật tử như đã biết là bao hàm 3 nội dung Nhiếp luật nghi giới, Nhiếp thiện pháp giới và Nhiêu ích hữu tình giới. Vậy khi dùng tiêu đề Luật Nghi Khất Sĩ thì nên hiểu nó ở nghĩa rộng, rằng đây là luật nghi của tất cả các vị khất sĩ phàm Thánh, gồm hàng phàm Tăng và các Thánh vị Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán, Duyên Giác, Bồ-tát mà Phật giáo Khất Sĩ đã triển khai. Trong 7 đạo quả, ngoài 6 Thánh quả trên là quả Như Lai, bậc Vô thượng sĩ.

Giới luật Khất Sĩ là công truyền chứ không phải là bí truyền. Diện mạo ban đầu của Giới luật Khất Sĩ là các quyển Chơn Lý và được ấn tống phổ biến cho Tăng, Ni, Phật tử sử dụng. Đối với các Sa-di, Phật giáo Khất Sĩ từ lâu đã quy định các vị ấy phải học thuộc lòng Giới bổn rồi mới được thọ giới Tỳ-kheo. Tinh thần công truyền của Giới luật Khất Sĩ đã thể hiện sự khách quan và trong sáng của hệ thống giới luật này.

Giới luật Khất Sĩ được biên tập bằng tiếng Việt chứ không dùng tiếng Hán, tiếng Pali hay tiếng Phạn, tiếng Tạng, 4 ngôn ngữ cổ của Phật giáo thế giới. Khi biên tập bằng tiếng Việt, có những danh từ được dùng rất khéo như y Thượng, y Trung, y Hạ, Bình bát đất, áo Giới, nhà Tam Bảo (nhà thờ Phật, nhà thuyết Pháp, nhà Tăng ở)… Đây là một ưu điểm của Giới luật Khất Sĩ, thể hiện sự tích cực  tiến bộ. Sau này, khi được phát triển ra thế giới, thì Giới luật Khất Sĩ sẽ được dịch thành tiếng Anh, Pháp, hay các thứ tiếng khác thích hợp cho mọi người sử dụng.

Giới luật Khất Sĩ có phần ngắn gọn, những gì Tổ sư Minh Đăng Quang đã biên tập và ban hành chỉ có 8 chương, dài khoảng 200 trang sách khổ trung bình. Như Giới bổn Tăng và Giới bổn Ni đã nêu lên những giới điều rất cụ thể, nội dung đầy đủ mà mỗi Giới bổn chỉ dài hơn 20 trang sách; hay phần nghi thức cúng Ngọ rất gọn mà sinh động, các bài kệ rất sâu sắc. Khi xem 6 bộ quảng luật của Phật giáo thế giới, những bộ được biên tập từ cách đây hơn 2.300 năm, ta nhận thấy là chúng hơi cổ trong cách trình bày. Ngày nay, ta thấy các “tên giới” như người xưa biên tập thật ra là nội dung chính của các giới điều, còn “nội dung giới” như người xưa sắp xếp thật ra là những phần diễn giải. Phần diễn giải nên sắp riêng cho người học luật dễ theo dõi.

Nét sáng tạo của Giới luật Khất Sĩ có thể thấy qua sự cách tân bộ tam y khất sĩ và bộ tam y nữ khất sĩ: thấy chúng vẫn như xưa mà xem ra thật là áo giải thoát hiện đại. Hay mô hình tịnh xá bát giác với cổ lầu tứ giác bên trên có hai tầng mái xòe ra các hướng trông như một tòa sen lớn đang nở giữa biển đời. Hay bảo tháp thờ Phật được đặt ngay giữa chánh điện, để mọi người quây quần xung quanh, cảnh như thời đức Phật còn tại thế. Hay bình bát đất có đáy bằng nên không cần thêm một phụ tùng là cái kiềng đỡ bát. Giới luật là đời sống, mà đời sống thì cứ đi tới. Qua nhiều quốc độ và nhiều thời đại khác nhau, Phật giáo đã phải thích ứng bằng những sáng tạo cần thiết. Về khía cạnh này, Phật giáo Khất Sĩ đã rất khéo léo, không quá trớn đến mức mất luôn y bát chơn truyền của chư Phật. Giới luật Khất Sĩ được trình bày rõ ràng. Tám chương do Tổ sư Minh Đăng Quang đã ban hành chính là phần căn bản của Giới luật Khất Sĩ (tập 1). Ngoài phần này dĩ nhiên còn phải thêm phần chú giải (tập 2) và thêm phần bổ sung (tập 3) là cập nhật những quy định của Phật giáo Khất Sĩ qua các thời đại. Ba tập này thì cũng vừa phải cho một bộ quảng luật, không thiếu sót mà cũng không rườm rà phiền phức. Sự rõ ràng của Giới luật Khất Sĩ còn được thể hiện trong khâu dịch thuật, như phần dẫn nhập và phần Kệ giới của 7 đức Phật trong các Giới bổn đã được chuyển dịch thành văn xuôi dễ hiểu, các đoạn bị trùng ý trong Môn oai nghi của Sa-di và Sa-di Ni được lược bớt, các câu chú âm Hán-Phạn được thay bằng một chữ “Như” đầu mỗi bài kệ chú nguyện, những từ ngữ và ý tứ cho rằng các giới pháp của hàng Phật tử xuất gia là nhỏ mọn, phi pháp, tà kiến đều được lược bỏ trong Giới Phật tử. Kinh luật khi qua tay người có huệ nhãn thì trở nên rõ nghĩa, còn không thì ngược lại. Nói chung, Tổ sư Minh Đăng Quang đã biên tập Giới luật Khất Sĩ rất hợp lý.

Đoạn cuối của Giới bổn Tăng và Giới bổn Ni Khất Sĩ có nội dung như thế này:

Giới bổn này tất cả khất sĩ đều dùng được hết.

Luật Tăng đồ nhà Phật này của phái Đàm-Vô-Đức bộ do đại sư Đàm-Đế dịch năm 254 Dương lịch.

Qua đoạn này, ta biết được Giới bổn Tăng Khất Sĩ và Giới bổn Ni Khất Sĩ được căn cứ vào một hệ thống Tứ phần Luật có trước hệ thống Tứ phần Luật do ngài Phật-đà-da-xá và Trúc Phật Niệm dịch ra Hán ngữ khoảng 200 năm.

Trong sách Lịch Sử Phật Giáo Trung Quốc của hòa thượng Thanh Kiểm, đoạn khái thuyết về Phật giáo thời nhà Ngụy (220-265, nhà Tiền Ngụy, do Tào Tháo thành lập vào đầu thời Tam Quốc) đã có nhắc đến đại sư Đàm-đế như sau:

… Sau hai năm, (254 TL) lại có ngài Đàm Đế (Dharmatrata) tới, và phiên dịch bộ “Đàm Vô Đức Yết Ma”, cách tác pháp thụ giới.

… Các vị Phạm Tăng tới nước Ngụy phiên dịch kinh điển, đặc biệt có hai ngài Đàm Ma Ca La và Đàm Đế đã dịch về giới luật, là những vị truyền bá giới luật đầu tiên ở Trung Quốc, rất có ảnh hưởng lớn đến hậu thế.

Ngài Đàm-ma-ca-la đến Trung Quốc năm 250 (năm Gia Bình thứ 2) và đã dịch Tăng-kỳ Giới Bổn (218 giới), dĩ nhiên Giới bổn này không phải của phái Đàm-vô-đức. Ngài Đàm-đế dịch một quyển Yết-ma, quyển này tương truyền đương thời đã dùng để tác pháp cho người Trung Quốc xuất gia, thọ giới, v.v… Khi dùng Đàm-vô-đức Yết-ma để tác pháp thọ giới, thì sách này phải có Giới bổn, vì đâu thể dùng Tăng-kỳ Giới Bổn là của phái khác. Và Tổ sư Minh Đăng Quang đã cho biết các Giới bổn do ngài biên tập và phổ biến cho Tăng, Ni khất sĩ sử dụng là do đại sư Đàm-đế phiên dịch ra Hán ngữ vào năm 254. Chúng ta hãy ghi nhận điều đó.

Còn 4 chữ “tất cả khất sĩ” là chỉ hết các hạng khất sĩ Thanh Văn, khất sĩ Duyên Giác và khất sĩ Bồ-tát, mỗi hạng khất sĩ đều có 10 địa (xem Tam thập địa trong Pháp học Sa-di III – Huệ). Chẳng phải vô cớ mà giới pháp của chư Tỳ-kheo được đức Phật gọi là Giới bổn, Giới gốc. Ngày xưa, đức Lục Tổ Huệ Năng đã lên Tổ vị rồi, thọ nhận y bát và tâm ấn của chư Phật đã 16 năm rồi, mà vẫn xuất gia và thọ giới Tỳ-kheo trước khi ra hoằng pháp đốn giáo thượng thừa. Hay như đức Tổ sư Minh Đăng Quang cũng đã đắc đạo ở bờ biển Mũi Nai rồi, sau về làng Phú Mỹ vẫn lần lượt cầu thọ giới pháp và nghiêm trì giới Sa-di, Tỳ-kheo rồi mới lập Đạo Phật Khất Sĩ. Bậc đắc đạo dĩ nhiên đã thành tựu giới thể vô nhiễm, các Ngài vẫn cầu thọ giới pháp của chư Phật để làm gì? Thế nên 4 chữ “tất cả khất sĩ” không phải đơn giản, đây là Tổ sư Minh Đăng Quang đã khéo phá bỏ sự chống báng của 3 thừa, dung hòa vào một nguồn Thích-ca Chánh pháp như chơn lý, khẳng định “thừa” là trình độ tâm trí chứ không phải là giai cấp. Phật pháp thuần một đạo vị giải thoát, tuy hàng Phật tử có nhiều trình độ khác nhau nhưng không vì thế mà xung đột như kẻ thế tục.

Tóm lại, Giới luật Khất Sĩ đã căn cứ vào Luật Tứ Phần do đại sư Đàm-đế dịch như các phần Giới bổn,những câu chú nguyện mẫu trong Kinh Hoa NghiêmGiới Phật tử trong Kinh Phạm VõngKệ pháp của 7 đức Phật trong Kinh A-hàm, những phần do đại sư Liên Trì tổng hợp (Môn oai nghi Sa-di và 10 giới nghĩa), những phần khác do học giả Đoàn Trung Còn phiên dịch ra tiếng Việt, Tổ sư Minh Đăng Quang đã sử dụng nhiều nguồn để biên tập nên Giới luật Khất Sĩ như vậy. Trong thời gian tu hành và hoằng pháp chỉ khoảng 10 năm, Tổ sư Minh Đăng Quang làm sao có thể làm được nhiều việc như thế? Thế mới hay là cái biết của chư Tổ sư đâu phải như người thường, các Ngài chẳng cần học từng quyển sách, lục tìm từng tài liệu! Diệu dụng của Bát-nhã Ba-la-mật thật bất khả tư nghì! Công đức khai sơn lập đạo của Tổ sư Minh Đăng Quang thật bất khả tư nghì! Và Giới luật Khất Sĩ cũng thật bất khả tư nghì!

B. SƠ LƯỢC NỘI DUNG

1. Giới pháp cư sĩ: gồm 5 giới và 8 giới, giành cho những người đã quy y Tam Bảo, sống cuộc sống gia đình, có những trách nhiệm thế tục và làm ngoại hộ cho Phật giáo.

a. 5 giới cư sĩ: là căn bản của mọi luật nghi của Phật giáo, cũng là các bậc thang tất yếu để đi lên cõi người, cõi trời trong hiện tại và trong tương lai. 5 giới cư sĩ của Phật giáo Khất Sĩ tương đương 10 thiện nghiệp:

1.     Cấm sát sanh

2.     Cấm trộm cắp

3.     Cấm tà hạnh

4.     Cấm nói dối, khoe khoang, đâm thọc, rủa chửi.

5.     Cấm uống rượu, tham lam, sân giận, si mê.

b. 8 giới cư sĩ: giành cho những người tập xuất gia một ngày đêm, tu Bát quan trai, nên 8 giới này chỉ thọ một ngày, ngày nào muốn tu lại cầu thọ 8 giới.

1.     Cấm sát sanh

2.     Cấm trộm cắp

3.     Cấm dâm dục

4.     Cấm nói dối, khoe khoang, đâm thọc, rủa chửi.

5.     Cấm uống rượu, tham lam, sân giận, si mê.

6.     Cấm trang điểm phấn son, áo quần hàng lụa tươi tốt, và nghe xem hát múa đờn kèn, yến tiệc vui đông.

7.     Cấm ngồi ghế cao, nằm giường rộng, chiếu lớn xinh đẹp.

8.     Cấm ăn sái giờ từ quá ngọ đến ngọ mai (ăn chay).

2. Giới pháp Sa-di và Sa-di Ni: gồm 10 giới – Tứ y pháp, mặc bộ tam y, dùng bình bát đất, làm con trò của khất sĩ, tập hạnh khất sĩ để trở thành bậc khất sĩ chân chính sau này. Giới pháp Sa-di và Sa-di Ni có10 giới:

1.     Cấm sát sanh

2.     Cấm trộm cắp

3.     Cấm dâm dục

4.     Cấm nói dối, khoe khoang, đâm thọc, rủa chửi.

5.     Cấm uống rượu, tham lam, sân giận, si mê.

6.     Cấm trang điểm phấn son, áo quần hàng lụa tươi tốt.

7.     Cấm nghe xem hát múa đờn kèn, yến tiệc vui đông.

8.     Cấm ngồi ghế cao, nằm giường rộng, chiếu lớn xinh đẹp.

9.     Cấm ăn sái giờ từ quá ngọ đến ngọ mai (ăn chay).

10.                        Cấm rớ đến tiền bạc vàng, của quý, đồ trang sức.

Và Tứ y pháp:

1.     Nhà sư khất thực phải lượm những vải bỏ mà đâu lại thành áo, nhưng có ai cúng vải, đồ cũ thì được nhận.

2.     Nhà sư khất thực chỉ ăn đồ xin mà thôi, nhưng ngày hội, thuyết pháp, đọc Giới bổn, được ăn tại chùa.

3.     Nhà sư khất thực phải nghỉ dưới cội cây, nhưng có ai cúng lều, am nhỏ bằng lá một cửa thì được ở.

4.     Nhà sư khất thực chỉ dùng phân uế của bò mà làm thuốc trong khi đau, nhưng có ai cúng thuốc, dầu, đường thì được dùng.

3. Chúng Thức-xoa-ma-na:

Thức-xoa-ma-na là một chúng đệ tử Phật. Tình hình các chúng đệ tử Phật được thành lập đại khái như sau: Đầu tiên, những người nam theo Phật xuất gia đều liền được cho làm Tỳ-kheo, số lượng lên đến hàng ngàn người. Sau vài năm thành đạo, đức Phật về thăm cố quốc và đã dẫn con trai theo cho đi tu. Khi ấy La-hầu-la chỉ là một thiếu nhi 9 tuổi, nên Phật bảo ngài Xá-lợi-phất thâu nhận chú làm vị Sa-di đầu tiên trong Phật giáo. Sau khi vua cha của đức Phật mất, bà di mẫu Ma-ha-ba-xà-ba-đề cùng nhóm 500 người nữ dòng họ Thích-ca đã đến gặp Phật năn nỉ xin được xuất gia. Đức Phật đã đặt ra 8 điều kiện để thâu nhận họ, trở thành chúng Tỳ-kheo-ni đệ tử Phật. Theo chân các Tỳ-kheo-ni này, sau đó đã có nhiều nữ nhân xuất gia làm Tỳ-kheo-ni trong giáo pháp của Phật. Kế tiếp, ngài Mục-kiền-liên độ cho 17 chú thiếu niên xuất gia. 17 chú này lớn hơn La-hầu-la và đã được đức Phật cho làm Tỳ-kheo. Các chú ấy không chịu đựng được đời sống Tứ y pháp của Tăng đoàn, khi đêm hay kêu khóc vì đói, nên đức Phật đã quy định người nam phải từ 20 tuổi trở lên mới được làm Tỳ-kheo, dưới tuổi đó phải làm Sa-di. Đến đây, chúng Thức-xoa-ma-na xuất hiện.

Thức-xoa-ma-na (Siksamana) có nghĩa là Học pháp nữ, Chánh học nữ. Duyên khởi của pháp này là thuở Phật còn tại thế, đã có một cô gái đi xuất gia với các sư cô rồi được thọ giới Tỳ-kheo-ni mà chính cô và mọi người đều không biết là cô đang có thai. Khoảng 3, 4 tháng sau, bào thai trong bụng cô lớn lên, làm cho người đời dị nghị về phẩm hạnh của chư Ni đệ tử Phật. Đức Phật đã nhờ bà Visakha khám nghiệm và minh oan cho cô trước đại chúng. Sau đó, đức Phật đã quy định là không nên cho người nữ vừa xuất gia liền được thọ giới Tỳ-kheo-ni, mà phải có một giai đoạn học pháp nhất định cho họ.

Điều luật này đã được áp dụng chung cho mọi người nữ mới xuất gia thời đó: các thiếu nữ đã từng có chồng, các thanh nữ 18 tuổi trở lên và mọi phụ nữ đều phải trải qua giai đoạn học pháp trước khi thọ giới Tỳ-kheo-ni. Với tục lệ tảo hôn cổ truyền của người Ấn, vào thời đức Phật đã có nhiều cô bé mới 10 tuổi đã có chồng, hình thành một hạng người nữ đặc biệt trong xã hội. Các thiếu nữ đã từng có chồng và hai hạng người nữ kia là ba hạng nữ nhân đã được Tăng đoàn ghi nhận là có thể làm Tỳ-kheo-ni, nhưng vì sinh lý của người nữ mà họ phải cần thêm thời gian, xem như phước duyên của họ còn khuyết.

Như vậy, ban đầu Thức-xoa-ma-na chính là quãng thời gian cần thiết để xác định duyên nghiệp của một người nữ mới xuất gia, nhằm xem người đó đã có thai hay không, trước khi cho thọ giới Tỳ-kheo-ni. Giai đoạn cần thiết này là cho những người nữ đi xuất gia mà không qua giai đoạn làm Sa-di-ni. Như nay trong Phật giáo, các người nữ đều phải xuất gia khoảng một năm mới được thọ giới Sa-di-ni, rồi thêm thời gian làm Sa-di-ni nữa, thì việc các cô ấy có thai hay không đã xác định được.

Pháp kính trọng thứ tư của các nữ khất sĩ có nội dung như sau:“4. Ni cô tập sự hai năm, nếu muốn vào hàng xuất gia thiệt thọ phải có giáo hội chư Tăng chứng nhận.”. Ở đây, “hàng xuất gia thiệt thọ” chính là hàng Tỳ-kheo-ni, hàng nữ khất sĩ, hàng Ni cô; còn “Ni cô tập sự” là chỉ những người đang tập làm Tỳ-kheo-ni. Ni cô tập sự là Sa-di-ni hay là Thức-xoa-ma-na? Nghi vấn này cũng nên được tìm hiểu.

Giới pháp Thức-xoa-ma-na không được Tổ sư Minh Đăng Quang đề cập đến trong bộ Chơn Lý. Và trong truyền thống của Phật giáo Khất Sĩ, giai đoạn Thức-xoa-ma-na của chư Ni chỉ có sự chứng minh chứ không có sự trao truyền, bởi vì không có giới Thức-xoa-ma-na nhất định để truyền. Khi đó, căn bản là các Ni cô tập sự được phép tập giữ Giới bổn Ni chứ không có gì khác, hoặc là được học tập thêm những oai nghi tế hạnh và những bài vở mà tùy mỗi giáo đoàn quy định, mục đích để huân tu thêm phước đức trí tuệ, chuẩn bị tư lương cho họ tiến lên phẩm vị Tỳ-kheo-ni. Điều này cho thấy Thức-xoa-ma-na quả là Học pháp nữ, họ được định vị là một chúng đệ tử Phật, với năng lực hơn các Sa-di-ni mà chưa đủ phước đức để làm Tỳ-kheo-ni. Trong Giới Luật Học Cương Yếu, hòa thượng Thánh Nghiêm cũng đã khẳng định là các Thức-xoa-ma-na chỉ có sự biệt giáo chứ không có giới thể để đắc. Ngài cũng đã trích dẫn sách Nghiệp Sớ như sau: “Học pháp nữ này không có giới luật, chỉ thọ biệt giáo thứ bậc hơn Sa-di-ni.” (tr. 283a). Hai từ “biệt giáo” dùng ở đây rất chính xác.

Thời đức Phật tại thế, chúng Thức-xoa-ma-na đã được hình thành như vậy. Về sau, các Tăng đoàn ở Ấn Độ đã quy định mọi nam nhân mới xuất gia đều phải trải qua giai đoạn làm Sa-di. Dĩ nhiên quy định này của Tăng đoàn là ứng với hạnh nghiệp của chúng sanh. Xét những vị nam tử lớn tuổi khi đi xuất gia vẫn phải làm Sa-di, họ có năng lực hơn các Sa-di mà chưa đủ phước đức để làm Tỳ-kheo, do vậy họ đã hình thành nên một chúng mà Luật tạng gọi là Danh tự Sa-di. Với chúng này, dĩ nhiên Tăng đoàn đã có ghi nhận những năng lực của họ và cũng có tạo những điều kiện thích hợp cho họ (ví dụ khi cần thì giáo hội cũng cho các Sa-di lớn tuổi đi trụ trì), nhưng không vì thế mà hình thành nên một giới pháp riêng cho chúng Danh tự Sa-di. Điều này được trình bày ở đây là để liên hệ đến trường hợp các Thức-xoa-ma-na. Và nếu chúng Danh tự Sa-di được hình thành trong thời đức Phật, thì có phải Phật giáo đã có 8 chúng Phật tử hay không?

Chư Ni cô đệ tử Phật là những vị được sinh ra và lớn lên với những biệt nghiệp của nữ giới. Để giúp cho các vị ấy được nghiệp duyên thuyên giảm, phước đức tăng trưởng, đủ năng lực đảm đương thọ mạng Phật pháp, thừa Như Lai sự, tác Như Lai sứ, các bậc thầy đã dày công rèn luyện cho các cô như vậy. Ngày xưa, đức Phật đã chế pháp Thức-xoa-ma-na cho các người nữ xuất gia mà không cần phải qua giai đoạn làm Sa-di-ni, pháp này không có giới thể. Đây là một sự thật tế nhị và có đạo lý chân chính, chúng ta hãy ghi nhận như vậy.

4. Giới pháp Tỳ-kheo-ni: gồm Tứ y pháp, Bát kính pháp và 348 giới Tỳ-kheo-ni. Chư Ni khất sĩ mặc bộ tam y, dùng bình bát đất, hành hạnh khất sĩ để trở thành bậc Vô thượng sĩ trong một ngày mai.

a. Tứ y pháp: là Tứ Thánh chủng, là bốn hạt giống Thánh hạnh, là bốn pháp trung đạo về đời sống thực tế ăn mặc ở bệnh của con người.

1.     Nhà sư khất thực phải lượm những vải bỏ mà đâu lại thành áo, nhưng có ai cúng vải, đồ cũ thì được nhận.

2.     Nhà sư khất thực chỉ ăn đồ xin mà thôi, nhưng ngày hội, thuyết pháp, đọc Giới bổn, được ăn tại chùa.

3.     Nhà sư khất thực phải nghỉ dưới cội cây, nhưng có ai cúng lều, am nhỏ bằng lá một cửa thì được ở.

4.     Nhà sư khất thực chỉ dùng phân uế của bò mà làm thuốc trong khi đau, nhưng có ai cúng thuốc, dầu, đường thì được dùng.

b. Bát kính pháp:

Bát kính pháp là 8 điều kiện mà nữ giới cung kính thọ lãnh từ Phật Thích-ca để được phép xuất gia trong giáo pháp của Ngài. Bát kính pháp là 8 pháp kính trọng, là 8 quy định cụ thể về sự tôn kính Tăng bảo luôn luôn của Ni giới. Tinh thần chung của Bát kính pháp là mọi pháp sự bên Ni giới đều phải có sự chứng minh của chư tôn đức Tăng. Tinh thần này có hai ý nghĩa: một là nêu cao đức khiêm tốn vô ngã của các nữ khất sĩ đệ tử Phật và hai là đức Phật đã phó chúc cho Tăng đoàn phải thường quan tâm giúp đỡ cho Ni giới như những người anh lớn đối với các em trong đại gia đình Phật giáo. Trong 7 chúng đệ tử Phật, chư Tỳ-kheo Tăng là các trưởng tử và thứ đến là chư Tỳ-kheo-ni, còn các chúng kia là hàng học trò của 2 chúng này. Bát kính pháp có nội dung như sau:

1.     Ni cô bao giờ cũng phải lễ bái chư Tăng, dầu cho lớn tuổi thế mấy cũng vậy.

2.     Ni cô không được phép trách mắng, rầy rà, nói hành chư Tăng.

3.     Ni cô không được phép xen vào việc ưng oan của chư Tăng.

4.     Ni cô tập sự hai năm, nếu muốn vào hàng xuất gia thiệt thọ phải có giáo hội chư Tăng chứng nhận.

5.     Ni cô nếu phạm giới phải sám hối giữa hai giáo hội nữ và nam.

6.     Ni cô phải nhờ giáo hội chư Tăng chứng minh đọc Giới bổn mỗi kỳ nửa tháng.

7.     Ni cô không được tựu hội nghỉ mùa mưa ở một xứ không có chư Tăng.

8.     Ni cô phải nhờ chư Tăng sắp đặt chỗ nơi hành đạo khi dứt mùa mưa.

Đối tượng của 8 pháp này là các Ni cô, là các nữ khất sĩ. Tổ sư dùng từ “Giáo hội nữ” ta có thể hiểu đó là Ni giới, Ni chúng, Ni đoàn, Ni bộ, Ni lưu; còn từ “Giáo hội nam” ta có thể hiểu đó là Tăng giới, Tăng chúng, Tăng đoàn, Tăng bộ.

c. 348 giới Tỳ-kheo-ni:

Chia làm 6 nhóm giới và nhóm 7 pháp diệt sự tranh cãi. 6 nhóm giới của Tỳ-kheo-ni xếp theo thứ tự từ nặng đến nhẹ như sau:

1.     8 đại giới

2.     17 giới tổn hại Tăng tàn

3.     30 giới phá sự thanh bần

4.     178 giới hành phạt

5.     8 giới đặc biệt

6.     100 giới nhỏ phải học

7 pháp diệt sự tranh cãi:

Khi có việc xảy ra xung đột, bất bình thì xử cho êm đi.

1.     Dùng cách tự thuận

2.     Hoặc nói quyết rằng quên

3.     Hoặc mình không biết, không cố ý

4.     Hoặc xin lỗi thành thật mình đã lỡ phạm

5.     Hoặc chuyển lên giáo hội xem xét cho

6.     Hoặc nhờ thầy quảng đại quyết định cho

7.     Hoặc cùng nhau niệm Phật bỏ qua, khỏa lấp như cỏ mới mọc.

Giới bổn Ni Khất Sĩ có 6 nhóm giới với 6 mức định tội căn bản như sau:

1.     8 đại giới – trục xuất

2.     17 giới tổn hại Tăng tàn – giáng cấp

3.     30 giới phá sự thanh bần – cấm phòng 6 bữa

4.     178 giới hành phạt – quỳ hương

5.     8 giới đặc biệt – xưng tội xả đọa

6.     100 giới nhỏ phải học – sám hối

5. Giới pháp Tỳ-kheo: gồm Tứ y pháp và 250 giới Tỳ-kheo. Chư Tăng khất sĩ mặc bộ tam y, dùng bình bát đất, hành hạnh khất sĩ để trở thành bậc Vô thượng sĩ trong một ngày mai.

a. Tứ y pháp:

Là Tứ Thánh chủng, là bốn hạt giống Thánh hạnh, là bốn pháp trung đạo về đời sống thực tế ăn mặc ở bệnh của con người.

1.     Nhà sư khất thực phải lượm những vải bỏ mà đâu lại thành áo, nhưng có ai cúng vải, đồ cũ thì được nhận.

2.     Nhà sư khất thực chỉ ăn đồ xin mà thôi, nhưng ngày hội, thuyết pháp, đọc Giới bổn, được ăn tại chùa.

3.     Nhà sư khất thực phải nghỉ dưới cội cây, nhưng có ai cúng lều, am nhỏ bằng lá một cửa thì được ở.

4.     Nhà sư khất thực chỉ dùng phân uế của bò mà làm thuốc trong khi đau, nhưng có ai cúng thuốc, dầu, đường thì được dùng.

b. 250 giới Tỳ-kheo:

Chia làm 7 nhóm giới và nhóm 7 pháp diệt sự tranh cãi. 7 nhóm giới của Tỳ-kheo xếp theo thứ tự từ nặng đến nhẹ như sau:

1.     4 đại giới

2.     13 giới tổn hại Tăng tàn

3.     2 giới không định

4.     30 giới phá sự thanh bần

5.     90 giới hành phạt

6.     4 giới đặc biệt

7.     100 giới nhỏ phải học

7 pháp diệt sự tranh cãi:

Khi có việc xảy ra xung đột, bất bình thì xử cho êm đi.

1.     Dùng cách tự thuận

2.     Hoặc nói quyết rằng quên

3.     Hoặc mình không biết, không cố ý

4.     Hoặc xin lỗi thành thật mình đã lỡ phạm

5.     Hoặc chuyển lên giáo hội xem xét cho

6.     Hoặc nhờ thầy quảng đại quyết định cho

7.     Hoặc cùng nhau niệm Phật bỏ qua, khỏa lấp như cỏ mới mọc.

Mỗi điều của 7 pháp này đều rõ nghĩa, có lý có tình, chắc chắn là có thể hòa giải ổn thỏa những đấu tranh trong Tăng chúng. Nếu Thất diệt tránh pháp được dịch như sau: Thất diệt tránh pháp:

1.     Nên dùng phép hiện tiền thì dùng phép hiện tiền.

2.     Nên dùng phép nhớ lại thì dùng phép nhớ lại.

3.     Nên dùng phép bất si thì dùng phép bất si.

4.     Nên dùng tự ngôn trị thì dùng tự ngôn trị.

5.     Nên dùng cách tìm tướng tội thì dùng cách tìm tướng tội.

6.     Nên dùng cách nhiều người tìm tướng tội thì dùng cách nhiều người tìm tướng tội.

7.     Nên như cỏ che đất thì dùng cách như cỏ che đất.

Thì các thuật ngữ “phép hiện tiền”, “phép bất si”, “tự ngôn trị”, “cách như cỏ che đất” cần phải giải thích thêm mới hiểu mà biết cách ứng dụng, như thế là không tiện. Trong Luật tạng, các từ được sử dụng như “tụ”, “thiên”, “chương”, “kiền-độ” đều có nghĩa chung là “phần”. Nếu đem các từ này dùng như danh từ riêng thì sẽ bất tiện. Như khi nói “5 thiên 7 tụ” thì ta phải giải thích thêm rằng “thiên” chỉ cái gì và “tụ” chỉ cái gì, thật là phiền. Chính những trình bày phiền phức đã làm cho Luật tạng trở nên rối, trở nên đáng e ngại, ít được phổ biến và ứng dụng. Nếu như cần phải chú giải thì nên gom các chú giải thành một phần riêng, cho thích hợp, tiện dụng.

Giới bổn Tăng Khất Sĩ có 7 nhóm giới với 6 mức định tội căn bản như sau:

1.     4 đại giới – trục xuất

2.     13 giới tổn hại Tăng tàn – giáng cấp

3.     2 giới không định

4.     30 giới phá sự thanh bần – cấm phòng 6 bữa

5.     90 giới hành phạt – quỳ hương

6.     4 giới đặc biệt – xưng tội xả đọa

7.     100 giới nhỏ phải học – sám hối

Như vậy là Giới bổn Tăng Khất Sĩ có 6 thiên 7 tụ, nếu theo cách nói cũ. Giới bổn này đã có thêm hình phạt giáng cấp. Trong 2 bộ Giới bổn Khất Sĩ, cách sử dụng tên chung (danh) đi kèm với loại tội trạng (chủng) như ở trên thật là gọn, dễ nhớ, dễ sử dụng.

                                                                                                                        (Còn tiếp)

Đạo Phật Khất Sĩ

Họ & tên
 Địa chỉ
 Email
 Địa chỉ
Điện thoại:
Chủ đề
Nội dung:
(Phần chữ in đậm là bắt buộc.)
Nhập mã xác nhận:  
Tôi đồng ý gửi thông tin này đến ban quản trị website.

CÁC BÀI VIẾT KHÁC TRONG MỤC :Khất Sĩ Phật Việt › Nghiên cứu